1.Hệ phái Khất sĩ với các yếu tố hình thành
Tình hình xã hội Việt Nam
Vào những năm nửa đầu của thế kỷ XX, chính sách cai trị của thực dân Pháp đã làm cho nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nền kinh tế Pháp và cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 – 1933) đã tạo thêm gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam cũng như gánh thêm một phần hậu quả của khủng hoảng ở chính quốc (Pháp). Khủng hoảng kinh tế đã gây ra ảnh hưởng đến tình hình xã hội Việt Nam, cụ thể((Trương Hữu Quýnh – Đinh Xuân Lâm – Lê Mậu Hãn, Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, Phú Yên, Nxb. Giáo Dục, 2008, tr. 759,760,761.)):
- Một phần ba số công nhân bị thất nghiệp (riêng miền Bắc có 25.000 công bị sa thải) và những công nhân có việc bị giảm lương từ 30% – 50%.
- Nông dân bị xu cao thuế nặng và nạn cho vay nặng lãi (một suất sưu năm 1929 với giá 50 kg gạo nhưng đến 1932 là 100kg và năm 1933 là 300k).
- Tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức điêu đứng. Địa chủ nhỏ bị sa sút. Một số tư sản dân tộc bị phá sản và vỡ nợ.
Với đời sống ngày càng khó khăn dưới chính sách cai trị của chính quyền thuộc địa, nhân dân Việt Nam dần có nhu cầu nương tựa vào một sức mạnh, một sự kỳ diệu nào đó để thay đổi cuộc sống hiện tại, trong đó, đời sống tâm linh là một lựa chọn bấy giờ. Đây cũng được xem là điều kiện thuận lợi cho việc xuất hiện nhiều tôn giáo mới ở Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng nhằm đáp ứng nhu cầu của quần chúng nhân dân.
Tình hình Phật giáo Việt Nam
Khi Pháp đặt chân lên đất Nam Kỳ và dân mở rộng xâm chiếm cả nước cũng là lúc người Việt Nam chịu nỗi đau mất nước, “Phật giáo thời bấy giờ cùng chung số phận ấy, đã bị mất chủ quyền dân tộc, giáo quyền đạo Phật bị chà đạp trắng trợn hơn bao giờ hết (các Sư phải nộp thuế thân, phải đi lính cho thực dân Pháp, chẳng được tự do truyền đạo như bên Thiên Chúa,…). Tình trạng khốn đốn của Phật giáo buổi này chẳng khác nào đóng cửa để chờ chết vì chẳng còn hệ thống (đoàn thể) tổ chức như trước kia, nguyên do Thực dân Pháp cố tình cắt đứt sự tổ hợp của Phật giáo để rồi chống đối chúng nên mọi hình thức của Phật giáo bị chúng làm tê liệt cả, trong Tăng giới thời này chẳng biết làm gì hơn trước sự dòm ngó theo dõi của thực dân nên sự sống hết sức là rời rạc vô tổ chức”((Vân Thanh, Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam, giấy phép số 929/72/PTUVK SALP/TP ngày 27-6-1974, trang 189 dẫn theo Thích Giác Duyên, Hệ phái Khất sĩ 70 năm hình thành và phát triển, TP. HCM, Nxb. Tôn giáo, 2014, tr. 24.)).
Theo nhận định của Nguyễn Xuân Thanh trong bài viết “Hiện trạng Phật giáo xứ ta”: “Hiện nay trong tăng đồ có người giới luật không trì, kinh điển không học, chỉ biết tán tụng qua loa rồi đắp y hậu nhà Phật, tự xưng Thầy với thiên hạ. Thế rồi cũng kiếm bổn đạo cho đông, cũng lập chùa cho tốt, cũng tạo vườn cho rộng, ruộng cho nhiều rồi cũng phạm các giới cấm quan trọng”((Nguyễn Xuân Thanh (1935), “Hiện trạng Phật giáo xứ ta”, nguyệt san Viên Âm, số 14, tr. 31 – 34 dẫn theo Dương Thanh Mừng, Phong trào chấn hưng Phật giáo miền Nam Việt Nam, TP. HCM, 2022, Nxb. Đà Nẵng, tr. 87.)).
Hòa thượng Giác Nhiên cho rằng: “Ở các nước người ta còn biết dịch kinh sách của Phật ra tiếng nước họ được đầy đủ; còn nhìn lại nước mình, thì đã có mấy ai chịu dịch ra chữ Quốc âm? Thật còn ít ỏi và thiếu thốn nhiều lắm. Cũng vì lẽ ấy mà đạo Phật ở nước nhà vẫn bị chìm đắm ở trong vòng tối tâm, lầm lạc”((Hội Nam Kì Nghiên cứu Phật học (1932), “Mục đích của Từ Bi Âm”, Từ Bi Âm, số 1, tr. 3-7 dẫn theo Dương Thanh Mừng, Phong trào chấn hưng Phật giáo miền Nam Việt Nam, TP. HCM, 2022, Nxb. Đà Nẵng, tr. 92.)).
Trong thời gian này, phong trào chấn hưng Phật giáo ở các nước châu Á diễn ra mạnh mẽ, xuất hiện sớm nhất ở Srilanka sau đó lan rộng ra các nước như Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia, …
Trong xu hướng đó, vào khoảng năm 1920 ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện một số cố gắng lẻ tẻ của các vị Cao tăng, tiêu biểu: Sư cụ Vĩnh Nghiêm, Tế Các, Bằng Sở (miền Bắc); các ngài như Huệ Pháp, Tâm Tịnh, Phước Huệ (miền Trung) hay Hòa thượng Khánh Hòa, Khánh An, Hệ Quảng (miền Nam).
Ngày 26/08/1931, trên cơ sở chính sách tự do, dân chủ và sự hỗ trợ của Hội Trí thức nhà Phật, Thống đốc Nam Kỳ ban hành Nghị định số 2062 về sự ra đời của Hội Nghiên cứu Phật học Nam Kỳ. Đầu năm 1932, Hội nghiên cứu Phật học Nam Kỳ và tờ tạp chí Từ Bi Âm ra đời. Từ đây, Nam Kỳ được xem là nơi tiên phong thành lập tổ chức chấn hưng Phật giáo và trở thành cơ sở quan trọng để tăng sĩ ba kỳ tổ chức chấn hưng phật giáo.
Cả ba miền Nam – Trung – Bắc đã hình thành nhiều tổ chức Phật giáo. Cụ thể: Hội Nghiên cứu và Thực hành giáo lý Phật giáo (1932), Hội Phật giáo Tương Tế (1934), Hội Lưỡng xuyên Phật học (1934), Hội Thiên thai Thiền giáo tông Liên hữu (1934), Hội Phật học Đà Thành (1935), Hội Phật giáo Bắc Kỳ Cổ sơn môn (1935), Hội Tịnh độ Cư sĩ (1936), Hội Phật học Kiêm tế (1937)… gắn với tờ báo Phật học: Tạp chí Duy Tâm (1935), tạp chí Tiếng Chuông Sớm (1935), báo Đuốc Tuệ (1935), tạp chí Pháp Âm (1937), tạp chí Tiến Hóa (1938)…((Thích Nhật Từ, Phật giáo vùng Nam Bộ trong thế kỷ XX, TP. HCM, 2020, Nxb. Hồng Đức, tr. 163.)).
Các tổ chức Phật giáo ra đời gắn liền với những hoạt động nhằm giáo dục tăng già, cải cách sinh hoạt tôn giáo, truyền bá giáo lý Phật giáo cũng như hoằng dương Phật pháp. Với xu hướng cải cách mới Hệ phái Khất sĩ xuất hiện được xem là một sự cố gắng, một trong những điểm sáng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng.
Tính đặc sắc của Nam Bộ
Nam bộ là vùng đất mới, là nơi hội tụ nhiều tộc người (Việt, Hoa, Chăm, Khmer,…). Vì thế, dẫn đến sự đa dạng về phong tục, tập quán cho đến đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo.
Trong quá trình lưu dân và tụ cư ở vùng đất Nam Bộ, thành phần cư dân chủ yếu xuất thân từ những tù nhân bị lưu đày, những kẻ phạm tội, những phần tử bị truy nã và một số người điền chủ chiêu mộ dân nghèo khai hoang, lập làng. Họ xa rời những luật lệ ràng buộc của tổ chức làng xã, họ rũ bớt những ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Với những đặc điểm về lịch sử và tự nhiên của vùng đất này, đã hình thành nên một tính cách đặc biệt của người dân Nam Bộ là phóng khoáng, cởi mở trong tâm lý và giao tiếp ứng xử((Nhiều tác giả, Kỷ yếu hội thảo: Cộng đồng các tôn giáo Nam Bộ trong tiến trình lịch sử Việt Nam, TP.HCM, Nxb. Tài Chính, 2022, tr. 15.)).
Do đó, trong đời sống tâm linh, Nam Bộ là nơi có nhiều tôn giáo/giáo phái. Cụ thể như Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Nam tông (Việt và Khmer), Thiên Chúa giáo, Phật giáo Hòa Hảo (1939), đạo Cao Đài (1926),…
Mặt khác, các tôn giáo như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài mang tư tưởng của Phật Giáo. Các tôn giáo mới ra đời chủ yếu dạy người cư sĩ những điều cơ bản như ăn chay, làm thiện, tính nhân quả,…
Trong bối cảnh đó, Tổ sư Minh Đăng Quang xuất phát từ phong trào chấn hưng Phật giáo với tiêu chí “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp”, chú trọng về mặt tu tập cho lớp cư sĩ cũng như cho người xuất gia.
Chính Tổ sư Minh Đăng Quang trong Chơn lý phần “Tông giáo” có nói: “Đạo Phật ngày nay đã không còn giống y như xưa nữa; ai cũng gọi là đệ tử Phật, niệm tên Phật mà không giữ giới luật. Tông giáo càng rộng, sự tín ngưỡng càng nhiều thì giới lại càng mất, triết lý càng lu; Tăng đồ càng suy, thì vật chất càng thạnh. Tăng là giềng mối tâm hồn, là tinh thần sanh chúng, thế mà Tăng chia lìa, thất lạc, thì thần vật chất sao chẳng hoành hành, chôn lấp chúng sanh? Trần thế trách sao không nguy hại?”((Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, TP. HCM, Nxb. Tổng hợp TP. HCM, 2016, tr. 323.)).
Có thể nói, các yếu tố đã hình thành và tạo tiền đề cho Hệ phái Khất sĩ ra đời. Giai đoạn 1944 – 1954 được xem là giai đoạn khởi thủy và là nền tảng đóng vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Hệ phái.
2. Hành Trình giáo hóa của Tổ Sư Minh Đăng Quang
Quá trình chuyển biến trong nhận thức đến giác ngộ (từ lúc nhỏ đến năm 1944)
Tổ sư Minh Đăng Quang (Nguyễn Thành Đạt), sinh ngày 26/9/1923, tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (ấp 6, xã Hậu Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long).
Thân phụ của Tổ sư Minh Đăng Quang là ông Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu là bà Phạm Thị Nhàn. Gia đình ông bà có tất cả năm người con, trong đó Tổ sư Minh Đăng Quang là con út, gia đình của Tổ sư là gia đình có truyền thống trọng Nho kính Phật. Chính sự khuôn khổ, phép tắc của Nho giáo cùng với quan niệm về từ bi của Phật giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm thức của Tổ sư khi Ngài còn nhỏ và dần hình thành nên tính cách thương người, thương đời.
Năm Giáp tý 1924, Tổ sư được tròn mười tháng thì thân mẫu bị bệnh tim và qua đời (32 tuổi)((Thích Giác Duyên, Hệ phái Khất sĩ 70 năm hình thành và phát triển, tp. HCM, Nxb. Tôn giáo, 2014, tr. 28.)). Đây là mất mát đầu tiên trong cuộc đời của Tổ sư, nhưng vì còn quá nhỏ nên có lẽ Tổ sư vẫn chưa thể cảm nhận sâu sắc được nỗi đau mà sự mất mát này mang lại.
Nhưng góc độ Tâm lý học, trong năm đầu tiên của trẻ, mối quan hệ quan trọng nhất, gần gủi nhất, nhạy cảm nhất về các nhu cầu tâm sinh ký trong sự gắn bó ruột thịt, cũng là mối quan hệ tạo cho trẻ cảm giác an toàn và phát triển tốt nhất.
Do đó, mất mát lớn lao của tuổi đầu đời có lẽ có những tác động lớn đến nhận thức của Tổ sư ở giai đoạn sau về nỗi đau nhân sinh cũng như lòng thương người, thương đời sâu sắc.
Sự gắn bó mẹ con đã bị chia chắt từ rất sớm, nhưng tình yêu thương chăm sóc của người lớn trong gia đình dành cho Tổ sư thì không bị đứt gãy. Từ khi thân mẫu mất, Tổ sư được cô Út đem về nuôi 1 tháng, ở nhà bác dâu thứ tám 1 tuần và sau đó Ngài được gởi về quê ngoại. Bà ngoại nuôi đến 3 tuổi, tiếp đến được kế mẫu Hà Thị Song nuôi dưỡng((Thích Giác Duyên, Hệ phái Khất sĩ 70 năm hình thành và phát triển, TP. HCM, Nxb. Tôn giáo, 2014, tr. 29)).
Nhờ điều đó mà tâm hồn của Tổ sư đã được nuôi dưỡng và vun trồng bởi tình yêu thương ấm áp, sự đùm bọc của các thành viên trong gia đình. Có một bằng chứng cho thấy rõ được tình thương yêu của Tổ sư là rất đặc biệt ngay từ khi Ngài còn nhỏ.
“Năm lên bảy, được cụ ông cho lên thị xã Vĩnh Long học cùng các anh. Lúc ấy tuy Ngài còn nhỏ nhưng rất có lòng từ như khi trời nắng thân phụ cho tiền đi xe kéo, xe ngựa nhưng không nỡ đi vì thương người, xót vật”((Thích Giác Duyên, Hệ phái Khất sĩ 70 năm hình thành và phát triển, TP. HCM, Nxb. Tôn giáo, 2014, tr. 29)).
Năm 1929, Tổ sư Minh Đăng Quang học Trường Tiểu học Nội trú (Internat Primaire)((Thích Chúc Phú, Nghiên cứu về những nét tương đồng giữa chân dung vị độc giác và hành trạng của tôn giả Minh Đăng Quang, TP. HCM, Nxb. Tổng hợp, 2019, tr. 37.))ở Vĩnh Long cùng các anh. Theo người chị Ba của Tổ sư cho biết thì Tổ sư học đến bằng Thành chung (tương đương lớp 9)((Thích Giác Duyên, Hệ phái Khất sĩ 70 năm hình thành và phát triển, TP. HCM, Nxb. Tôn giáo, 2014, tr. 29.)).
Năm 1937, Tổ sư tốt nghiệp bằng sơ học Pháp-Việt (Certificant D’Études Primaires Franco-Indigènes)((Thích Chúc Phú, Nghiên cứu về những nét tương đồng giữa chân dung vị độc giác và hành trạng của tôn giả Minh Đăng Quang, TP. HCM, Nxb. Tổng hợp, 2019, tr. 38.)). Trong khoảng thời gian này, Tổ sư thường theo cha đến chùa lễ Phật nghe pháp và chay lạt. Qua quá trình tiếp xúc với kinh sách của Phật giáo và phong trào “cứu nhân độ thế” đương thời, Tổ sư dần hình thành về tâm thức, về lòng từ bi, thương người mến vật và lòng thành kính đối với Phật giáo.
Với xuất thân từ gia đình có truyền thống Phật giáo và Nho giáo, thêm việc hay theo chân thân phụ lên chùa dâng hương lễ Phật nghe kinh, tiếp cận chay lạt. Một người như Tổ sư vốn đã có tấm lòng thương người, thương vật sâu sắc thì việc quyết tâm từ bỏ sự học để chuyên tâm học đạo cứu độ chúng sanh là chuyện dễ hiểu.
Năm 15 tuổi (1938), sau nhiều lần xin phép đi tu nhưng thân phụ không chấp nhận, Tổ sư đã sang Nam Vang tìm thầy tu học và gặp thầy Lục Tà Keo (một vị bùa phép người Miên). Sau 4 năm, Ngài cảm thấy không phù hợp và trở về quê năm 1941. Tuy không được ông Lục Tà Keo chỉ dạy nhiều, nhưng Tổ sư vẫn tận dụng khoảng thời gian ở bên đây để nghiên cứu Kinh tạng và đường lối Y bát chơn truyền của Phật Tăng xưa.
Sau vài tháng về quê, Tổ sư lên Sài Gòn làm thư ký tài chánh cho nhà hàng Nguyễn Văn Trận. Năm 1942, Ngài cưới vợ (Kim Huê) và một năm sau Ngài có con (Kim Liên). Sau khi hạ sanh bé Kim Liên được vài tháng thì vợ Ngài mất và bé Kim Liên cũng mất do bệnh năm 2 tuổi.
Đây được xem là hai mất mát lớn của cuộc đời Tổ sư Minh Đăng Quang sau mất mát đầu tiên của thân mẫu Ngài. Có lẽ giờ đây Tổ sư đã cảm nhận rõ nét được đau khổ mà bản thân đang đối mặt.
Tuy lúc này, Tổ sư Minh Đăng Quang đã từng có chí xuất gia và trải qua một thời gian tu tập nhưng chúng ta có thể mường tượng được phần nào về nỗi đau mất mát người vợ thân yêu và đứa con gái đầu lòng của Ngài.
Có thêm một vài thông tin nữa để chúng ta có thể dễ thấu hiểu hơn. Mùa hè năm 1943, Ngài lên lại Chợ Lớn, xin phép gia đình bên vợ cho được tập tu bá nhật tịnh khẩu ngay tại ngôi nhà nơi đất thổ mộ của gia đình cha vợ ở Bình Thới (TP. HCM) mà hai vợ chồng đã ở. Tuy e rằng con rể nhất thời nông nổi nhưng ông Hội đồng Nhiều vẫn đồng ý, dặn các con nhỏ không được quấy rầy “anh Bảy lớn”, để xem Ngài tu có nổi không((Nhiều tác giả, Hệ phái Khất sĩ Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, TP.HCM, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 92.)).
Đến hơn một năm sau thì Kim Liên cũng từ giã cuộc đời (ba tuổi ta, 13 tháng tuổi trở lên). Mất mát chồng chất mất mát, đau khổ tiếp nối đau khổ, hầu như ai ai nếu trải qua những chuyện đau buồn đến mức khó nói nên lời như này đều khó mà có thể chấp nhận sự thật hoặc là phải mất một thời gian rất lâu để bản thân có thể có lại được hy vọng về tương lai.
Năm 1944 (22 tuổi), Tổ sư Minh Đăng Quang rời Vĩnh Long để đi đến vùng núi Thất Sơn (Châu Đốc) quyết chí tu tập đến khi đắc đạo mới về. Ở đây Tổ sư tìm hiểu về Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông. Sau đó, Tổ sư đến Hà Tiên, sang Phú Quốc và cuối cùng Ngài dừng chân ở Mũi Nai (xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ngày nay) và tham thiền ở đây suốt bảy ngày đêm. Vào một buổi chiều, khi thấy những chiếc thuyền đánh cá bấp bênh trên mặt nước, Tổ sư ngộ ra chân lý “thuyền bát nhã” rồi bắt đầu ngược dòng đời cứu độ chúng sanh. Hình ảnh “thuyền bát nhã” xuất hiện một lần nữa trong bài pháp đầu tiên của Tổ sư Minh Đăng Quang thuyết tại chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho.
Cũng trong năm 1944, Tổ sư trở về nhà với hình dáng của một vị tu sĩ khoác bộ đồ nâu sồng, chắp tay chào thân phụ và báo tin: “Tôi đã đắc đạo rồi”. Sau mấy hôm, Tổ sư lại tiếp tục lên đường về vùng núi Thất Sơn.
Cho đến đây, chúng ta thấy được sức mạnh tinh thần của Tổ sư Minh Đăng Quang, khi chỉ vừa năm trước (1943) Tổ sư còn chịu đựng đau khổ do mất mát vợ con, vậy mà một năm sau (1944) Tổ sư không những thoát khỏi hố đen không đáy đó mà Ngài còn thấu triệt nhân sinh, khổ đau trầm luân của kiếp người mà giác ngộ với chân lý “thuyền bát nhã”.
Quá trình giác ngộ của Tổ sư thật đúng như những gì kinh Tăng Chi và kinh Tạp A-hàm chép, có một hạng người được gọi là bậc tự điều phục (bốn hạng người hiền thiện), cụ thể: “có một người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích (saṃvijjati saṃvegaṃ). Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy”((Thích Chúc Phú, Nghiên cứu về những nét tương đồng giữa chân dung vị độc giác và hành trạng của tôn giả Minh Đăng Quang, TP. HCM, Nxb. Tổng hợp, 2019, tr.56.)).
Quá trình từ giác ngộ đến thọ nạn và vắng bóng (1944 – 1954)
- Những bước chân trên hành trình truyền đạo
Sau khi thành đạo năm 1944, Ngài trở về nhà chào cha và nói rằng: “Tôi đã đắc đạo rồi”, qua mấy hôm tạm trú tại nhà, Tổ sư lại lên đường về miền Thất Sơn. Sau đó, Ngài làm trụ trị và thọ giới Sa di (10 giới) tại chùa Linh Bửu thuộc làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho. Thời gian này, Tổ sư Minh Đăng Quang thường đến thăm các vị đại sư như HT. Huệ Nhựt phái thiền và HT. Thiên Thai (Bà Rịa).
Một hôm Đức Phật A Di Đà đã ứng mộng và chứng minh thọ ký cho Tổ sư với pháp danh Minh Đăng Quang – khởi đầu cho thời điểm hành đạo. Từ đây, xuất hiện một hình bóng một nhà Sư, theo Huỳnh Minh miêu tả: “Người ta thấy vị tu sĩ kỳ lạ xuất hiện, che thân bằng những tấm vải đủ màu kết lại, tay ôm bát nhẹ nhàng từng bước, tướng mạo oai nghi, đôi mắt sáng như vầng dương, mặt ngó xuống chẫm rãi, thung dung tự toại, bên trong dường như đang quán xét thế trần, xoay chuyển những niệm lực cực kỳ vô tận, …”((Huỳnh Minh, Vĩnh Long xưa và nay, Nxb. Cánh Bằng, 1967, tr. 289.)).
Năm 1946, Ngài phát đại nguyện thọ Cụ túc Tỳ kheo 250 giới và hành Tứ y pháp Trung Đạo. Tứ y pháp Trung đạo bao gồm((Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Hệ phái Khất sĩ, Chơn lý Luật nghi Khất sĩ (riêng giới xuất gia), Nxb. TP. HCM, 2017, tr. 204.)):
- Nhà sư khất thực: Phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.
- Nhà sư khất thực: Chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội, thuyết pháp, đọc giới bổn, được ăn tại chùa.
- Nhà sư khất thực: Phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ bằng lá, một cửa thì được ở.
- Nhà sư khất thực: Chỉ dùng cây, cỏ, vỏ, lá mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng
Năm 1947, Ngài đã thu nhận người đệ tử xuất gia và người đệ tử đầu tiên của Ngài là thầy Từ Huệ, sau đó là cậu bé Giác Chơn (12 tuổi). Cuộc hành đạo của Tổ sư ngày càng rộng, đi từ làng này sang làng khác, tùy duyên mà giáo hóa.
Năm 1948, Tổ sư Minh Đăng Quang tổ chức lễ Tự tứ lần đầu tiên tại chùa Kỳ Viên (Sài Gòn) với hơn 20 người đệ tử. Đoàn Du Tăng được vị cư sĩ xin ở lại an trụ trong ba tháng hạ và chia làm hai: Tăng an trụ tại chùa Kỳ Viên và Ni an trụ tại Cây Gõ Chợ Lớn. Nơi thuyết kinh, giảng pháp đầu tiên của Tổ sư ở Phú Lâm, Chợ Lớn và đình Cây Gõ.
Ánh đạo của Tổ sư ngày càng lan rộng khắp thành thị, trong thời gian trú ở đô thành có rất nhiều thiện nam, tín nữ đến cúng dường và xin quy y thọ giới.
Tổ sư đã chỉ dạy cho đoàn Du Tăng, mỗi ngày hành đạo một nơi khác nhau, nơi nào có thiện tín thì lưu lại thuyết pháp, giảng đạo (mỗi nơi không quá 3 tháng). Bấy giờ, đoàn Du Tăng Khất sĩ đã đủ thành lập một Tiểu giáo hội (20 vị) và Tổ sư quy định: Tiểu giáo hội (20 người), Trung giáo hội (100 người) và Đại giáo hội (500 người)((Nhiều tác giả, Hệ phái Khất sĩ Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, TP. HCM, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 753.)).
Từ năm 1948 – 1953, Ngài cùng các Tăng Ni đi giáo hóa ở nhiều nơi ở miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Tiêu biểu như Bình Dương, Biên Hòa, Vũng Tàu, Sài Gòn, Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu,…
Trong quá trình giáo hóa độ sanh, Ngài luôn kêu gọi Tăng đồ tinh tấn hành trì giới luật và tu học với phương chăm((Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, TP. HCM, Nxb. Tổng hợp TP. HCM, 2016, tr.12.)):
“Nên tập sống chung tu học:
Cái sống là phải sống chung
Cái biết là phải học chung
Cái linh là phải tu chung”
Theo Huỳnh Minh nhận xét: “Người Phật tử ở khắp miền Nam nước Việt không còn ai mà không tán thán cái Đức độ, cái giới hạnh của một tu sĩ thanh xuân, đứng lên thí trường, chỉnh đốn Tăng già”((Huỳnh Minh, Vĩnh Long xưa và nay, Nxb. Cánh Bằng, 1967, tr. 288.)).
- Kết quả 10 năm:
Về số lượng Tăng Ni
Theo Huỳnh Minh cho rằng: “Cuộc đời đạo hạnh và đức độ của Sư trưởng Minh Đăng Quang cùng sáng chói đối với quần chúng, cảm mến, theo thọ giáo rất đông, đi tới đâu cũng có người ủng hộ”((Huỳnh Minh, Vĩnh Long xưa và nay, Nxb. Cánh Bằng, 1967, tr. 290.)).
Đến năm 1953, Ngài thu nhận 49 đệ tử Tăng và các đệ tử Ni. Cụ thể((Nhiều tác giả, Hệ phái Khất sĩ Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, TP. HCM, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 755.)):
- Chư Tăng: Giác Chánh, Giác Tánh, Giác Như, Giác An, Giác Tịnh, Giác Trụ, Giác Thần, Giác Lượng, Giác Thọ, Giác Tôn, Giác Thủy, Giác Hoằng, Giác Thanh, Giác Hạnh, Giác Hải, Giác Lập, Giác Nhơn, Giác Hòa, Giác Đức, Giác Nguyên, Giác Thường, Giác Thống, Giác Giới, Giác Duyên, Giác Lý, Giác Nhiên, Giác Phái, Giác Hùng, Giác Nhự, Giác Trung, Giác Sơn, Giác Lượng, Giác Tân, Giác Ẩn, Giác Bảo, Giác Trí, Giác Ý, Giác Thành, Giác Nghiêm, Giác Hương, Giác Hiếu, Giác Quí, Giác Đạo, Giác Chơn, Giác Pháp, Giác Hành, Giác Hồng, Giác Bửu, Giác Hội.
- Chư Ni: Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên, Kim Liên, Ngân Liên, Chơn Liên, Quang Liên, Tạng Liên, Trí Liên, Đức Liên, Bửu Liên, Hồng Liên, Giác Liên, Diệu Liên, Vân Liên, Thiện Liên, Thành Liên, Tràng Liên, Tánh Liên, Nghiêm Liên, Châu Liên, Quảng Liên, Hưng Liên, Tuệ Liên, Ngọc Liên, Hà Liên, Viên Liên, Văn Liên, Phổ Liên, Ký Liên, Ngoạt Liên, Thông Liên, Tân Liên, Đàn Liên, Chánh Liên, Hạnh Liên, Sanh Liên, Minh Liên, Tốn Liên, Liễu Liên, Mỹ Liên, Khánh Liên, Nhã Liên, Cầm Liên, Nhan Liên, Chiêu Liên, Diệu Liên, Nhu Liên, Mai Liên, Ngôn Liên, Kỉnh Liên, Quế Liên, Tuyết Liên, v.v…
Về xây dựng giáo lý
Tôn chỉ của Hệ phái Khất sĩ là hành trì Giới, Định và Huệ. Tổ sư Minh Đăng Quang đã khẳng định: “Giới như trái đất, Định như cây trồng trên trái đất, Huệ như trái cây”((Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Hệ phái Khất sĩ, Chơn lý Luật nghi Khất sĩ (riêng giới xuất gia), Nxb. TP. HCM, 2017, tr. 93.)). Ba yếu tố không thể tách rời nhau và mang tính quyết định cho sự thành tựu của sự tu học.
Trong 10 năm hành đạo, Tổ sư Minh Đăng Quang đã viết bộ Chơn lý, bao gồm 69 bài thuyết giảng được coi là nòng cốt của tư tưởng Hệ phái Khất sĩ, là kho tàng Pháp bảo truyền lại cho mọi người.
Bộ Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang chứa đựng nội dung về kinh, luật và luận. Đây còn là kết tinh tư tưởng của Tổ sư trong quá trình tiếp thu và chắt lọc những tinh hoa của Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông trên cơ sở tâm nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp” và được viết hoàn toàn bằng tiếng Việt. Tổ sư Minh Đăng Quang dạy rằng: “không phân biệt là miền Đại thừa hay Tiểu thừa, ai nấy đều phải cần trì giới, giữ hạnh… để sống một cách phải thế, trong sạch và hiền hòa”((Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Hệ phái Khất sĩ, Chơn lý Luật nghi Khất sĩ (riêng giới xuất gia), Nxb. TP. HCM, 2017, tr. 10.)).
Tổ sư Minh Đăng Quang đã dung hợp hai đường lối Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông, làm cho Hệ phái Khất sĩ gần gũi hơn như thời đức Phật. Tổ sư đã dạy người xuất gia phải là người Tăng sĩ thực sự được giải thoát và gắn liền với hình ảnh cụ túc hạnh cũng như Tứ y pháp((Thích Giác Duyên, Hệ phái Khất sĩ 70 năm hình thành và phát triển, TP. HCM, Nxb. Tôn giáo, 2014, tr. 35.)):
Một bát cơm ngàn nhà
Thân đi muôn dặm xa
Muốn thoát đường sinh tử
Xin ăn ngày tháng qua
Về số lượng tịnh xá
Theo HT. TS. Giác Toàn, “Đạo tràng là chỗ thiện nam tín nữ (cư sĩ tại gia) tới lui vun trồng căn lành cội đức; Tịnh xá là nơi chư Tăng Ni (người tu xuất gia) tạm dừng tu tập, tỏ nghĩa tâm kinh”((Nhiều tác giả, Hệ phái Khất sĩ Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, TP. HCM, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 750.)). Trong 10 năm, Hệ phái Khất sĩ đã thành lập hơn 20 tịnh xá đạo tràng.
Cụ thể: TX. Mộc Chơn (Mỹ Tho); TX. Pháp Vân, TX. Trúc Viên, TX. Ngọc Viên (Vĩnh Long), TX. Ngọc Trung, TX. Ngọc Minh, TX. Ngọc Liên, TX. Ngọc Phước (Cần Thơ), TX. Ngọc Vân (Trà Vinh), TX. Ngọc Khánh (Sóc Trăng), TX. Ngọc Quang (Sa Đéc – Đồng Tháp), Ngọc Thọ (Nhà Bàng – Châu Đốc), TX. Ngọc Long (An Giang), TX. Ngọc Thành (Long An), TX. Ngọc Thanh (Cai Lậy – Tiền Giang), TX. Ngọc Thạnh (Tây Ninh), TX. Ngọc Chánh (Sài Gòn),…((Nhiều tác giả, Hệ phái Khất sĩ Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, TP. HCM, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 754.)).
Có thể thấy, trong 10 năm từ 1944 – 1954, tổ sư Minh Đăng Quang với vai trò vừa là bổn sư, vừa là sư trưởng đã xây dựng Hệ phái Khất sĩ bao gồm trên 100 vị Tăng Ni, trên 20 ngôi tịnh xá và một nền giáo lý nền tảng cho sự phát triển của Hệ phái giai đoạn sau.
3.Thay lời kết
Từ những điều kiện về bối cảnh xã hội, tình hình Phật giáo Việt Nam cũng như về tính đặc trưng của Nam Bộ đã tạo điều kiện cho Hệ phái Khất sĩ ra đời. Trong đó, nổi bật là sự xuất hiện một con người có tinh thần tầm đạo và chí nguyện kiên cường, trong bước đường 10 năm từ thành đạo đến vắng bóng. Tổ sư Minh Đăng Quang đã xây dựng Hệ phái Khất sĩ với tâm nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp” đã tạo nên một thời kỳ sơ khai của hệ phái nhưng thật sự vững chắc và sáng chói, được xem là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của hệ phái đến ngày nay.



