1. Vài nét về Hệ phái khất sĩ
Tổ sư Minh Đăng Quang tên thật là Nguyễn Thành Đạt tự Lý Hườn, sinh ra trong một gia đình “Nho phong tiết thái”((Trần Thị Hiền, Một số đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất sĩ từ thời khởi nguyên cho đến nay, Luận văn thạc sĩ, Tp. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 12)), tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Từ nhỏ Ngài đã có lòng từ bi, kính ngưỡng đạo phật và thường xem kinh sám.

Đến năm 1938, Ngài sang Nam Vang tìm thầy học đạo nhưng không thành. Mặc dù không đạt kết quả như mong đợi nhưng Ngài đã có quá trình tu tập và thực hành giáo lý Phật giáo Nam tông (1938 – 1941) tại vùng đất Nam Vang. Năm 1944, Ngài quyết định đi sâu vào vùng núi Thất Sơn (Châu Đốc) để tu tập. Đến ngày rằm tháng 2 âm lịch năm 1944, Ngài đã chứng ngộ vô thường, khổ, vô ngã và tỏ sáng lý pháp “thuyền bát nhã”. Hai năm sau (1946), tại chùa Linh Bửu ngài phát nguyện đại thọ Cụ túc Tỳ kheo với 250 giới và hành Tứ y pháp Trung đạo.
Hệ phái Khất sĩ thời Tổ sư Minh Đăng Quang (1944 – 1954) được xem là thời sơ khai của Hệ phái, nhưng có thể nói là một thời kỳ vững chắc và sáng chói với việc thực hành hạnh nguyện “xả kỷ, lợi tha; trì bình khất thực; hóa độ chúng sanh” đúng với chí nguyện: “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp”.
Tổ sư Minh Đăng Quang đã gầy dựng lại một hình bóng của giáo đoàn thời Đức Phật, thực hành đời sống một vị Du Tăng Khất sĩ.
Ngày Tổ sư vắng bóng, với những tâm nguyện của Ngài, Hệ phái Khất sĩ tiếp tục truyền bá ra đến miền Trung và trưởng đoàn Du tăng bấy giờ là Thượng tọa Giác Chánh. Do quá trình ngày càng mở rộng và phát triển về phạm vi cũng như về số lượng Tăng Ni, phật tử, Hệ phái Khất sĩ dần xuất hiện khuynh hướng thành lập giáo đoàn để phù hợp với nhu cầu thực tế. Cụ thể, Hệ phái Khất sĩ đã thành lập 6 Giáo đoàn Tăng, 1 Đoàn Ni và 3 Phân đoàn Ni trực thuộc Tăng quản lý((Thích Giác Nguyên, Hệ phái Khất sĩ – 70 năm hình thành và phát triển, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2014, tr. 152.)).
Sau ngày giải phóng (30/04/1975), Tăng Ni Khất sĩ thường trú tại tịnh xá, dừng du hóa, tiếp tục theo giáo huấn của Tổ sư “nên tập sống chung tu học, cái sống là phải sống chung, cái biết là phải học chung và cái linh là phải tu chung”; tham gia các công trình, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, trồng và chế biến thuốc nam, châm cứu, làm nông nghiệp,…((Những điểm giáo lý căn bản của Hệ phái Khất sĩ trong Tìm lại nguồn xưa, Nxb. Tổng hợp TP. HCM dẫn theo Nhiều tác giả, Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, HCM, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 760.)).
Đến năm 1981, 3 tổ chức bao gồm: Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam (Giáo đoàn I đến Giáo đoàn V), Giáo hội Khất sĩ Việt Nam (Giáo đoàn VI) và Giáo hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam đã thống nhất gia nhập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Từ đây, Hệ phái Khất sĩ là một trong chín tổ chức Phật giáo đã thống nhất, hòa hợp chung trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.
Ngày nay, Hệ phái Khất sĩ không ngừng lớn mạnh và phát triển không chỉ về phạm vi, số lượng Tăng Ni và tính đồ mà còn tăng về trình độ Phật học và thế học.
2. Đặc điểm của Hệ phái Khất sĩ
Ra đời trong phong trào chấn hưng
Đầu thế kỷ XX, Phật giáo Việt Nam có nhiều chuyển biến mới. Dưới nền cai trị của chính quyền thực dân Pháp, Phật giáo cũng chung số phận với đất nước, giáo quyền bị chà đạp trắng trợn (các Sư phải nộp thuế thân, phải đi lính cho thực dân Pháp, không được tự do truyền đạo như Thiên Chúa giáo,…).
Đối với người xuất gia, theo cư sĩ Khánh Văn nhận định: “Có kẻ mượn Phật làm danh, cũng ngày đêm hai buổi công phu, thọ trì, sóc vọng, cũng sám hối như ai; bấy nhiêu đó làm đạo đức chưa đủ lại thủ dị cầu kì, học thêm bùa ngải, luyện roi thần, làm bạn với Thiên Linh cái, khi ông lên, lúc bà xuống,… lợi dụng lòng mê muội của chư thiện tín mở rộng túi tham quơ quét cho sạch sành sanh để tư dưỡng lợi kỉ”, “Cái hiện trạng như thế bảo sao Phật pháp chẵn suy đồi”((Khánh Văn (1937), “Phật giáo ở nước ta vì đâu mà phải chịu cái hiện trạng suy đồi?”, Duy Tâm Phật học, số 18, tr. 301-307. Dẫn theo, Dương Thanh Mừng, Phong trào chấn hưng Phật giáo miền Nam Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 2022, tr. 85.)). Hay theo, Hòa thượng Chánh Quả cho rằng: “Cái nguyên nhân làm cho Phật giáo suy đồi là do phần đông người xuất gia không học giới luật, không giữ giới luật và không làm theo giới luật mà ra cả”((Chánh Quả (1940), “Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”, Từ Bi Âm, số 173, tr, 15-21. Dẫn theo, Dương Thanh Mừng, Phong trào chấn hưng Phật giáo miền Nam Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 2022, tr. 97. )).
Đối với tín đồ, trong quyển 50 năm chấn hưng Phật giáo có đoạn: “Không đọc được kinh sách Phật, nên tính đồ không hiểu giáo lý của Phật là gì. Bắt đầu từ đó họ xa dần đạo Phật. Đạo Phật bắt đầu suy đồi. Đến nổi toàn quốc không có một ngôi trường học phật”((Thích Thiện Hoa (1970), 50 năm chấn hưng Phật giáo, tập 1, tr. 26.)).
Bên cạnh đó, Thực dân Pháp đã cố tình cắt đứt sự tổ hợp buổi đầu nhằm tránh nhân dân Việt Nam hoạt động dưới hình thức Phật giáo để chống lại chính quyền thực dân Pháp. Có thể nói, mọi hình thức truyền giáo dần bị tê liệt.
Nửa sau thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, phong trào chấn hưng Phật giáo diễn mạnh mẽ, sớm nhất là Sri Lanka, sau đó lan rộng sang các nước như Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia, … Đặc biệt, phong trào “Phục hưng Phật giáo Trung Hoa” đã có những bước tiến mạnh mẽ và ảnh hưởng đến các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam. Do đó, ngay từ năm 1920, Phật giáo Việt Nam đã bắt đầu manh nha trong việc chấn hưng Phật giáo như mở các trường gia giáo để đào tạo Tăng tài và thỉnh thoảng thuyết pháp cho các tín đồ.
Lúc đầu, có một số vị cao tăng khởi lên phong trào chấn hưng, tiêu biểu ở miền Bắc có: Sư cụ Vĩnh Khiêm, Tế Các, Bằng Sở; miền Trung có các Ngài: Tâm Tịnh, Huệ Pháp, Phước Thiện; miền Nam có Hòa thượng Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh An,…
Vào thập niên 20, 30 của thế kỷ XX, ở miền Nam, Tổ Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu lãnh đạo phong trào “Chấn hưng Phật giáo Bắc Tông”, gắn liền với sự ra đời của Hội nghiên cứu Phật học và tờ tạp chí Từ Bi Âm vào 1/1932. Ở miền Trung, tháng 6/1933 tờ nguyệt san Viên Âm ra đời ở Huế và làm cơ quan nghiên cứu của Hội Phật học Trung Kỳ. Ở miền Bắc, tháng 11/1934, Hội Phật học Bắc kỳ được thành lập và Đuốc Tuệ ra đời làm cơ quan tuyên truyền cho hội.
Tại Nam Bộ, từ sớm giới trí thức Phật giáo có Tây học đã biết đến phong trào Chấn hưng Phật giáo tại Sri Lanka và Trung Quốc. Mặt khác, ở Nam Bộ có hai tông phái chính Phật giáo Nam tông (của người Khmer và người Kinh) và Phật giáo Bắc tông. Đồng thời, ở Nam Bộ có sự xuất hiện và cùng tồn tại nhiều tôn giáo mang tư tưởng của Phật giáo như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo. Các tôn giáo mới này, đa phần dạy người cư sĩ những điều cơ bản như ăn chay, làm thiện tích đức và tin theo nhân quả.
Với nhiều chiều hướng tôn giáo và bối cảnh của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Hệ phái Khất sĩ ra đời khoác lên mình một luồng gió mới, trong việc dung họp hai truyền thống Phật giáo cũng như đề ra mục tiêu “Nối truyền thích ca chánh pháp” chú trọng tu tập cho lớp cư sĩ và lớp xuất gia cầu giải thoát.
Hòa mình vào không khí của phong trào chấn hưng Phật giáo của các bật Tôn túc đang phát động, Tổ sư với tâm nguyện “Nối truyền Thích – ca Chánh pháp” và khôi phục lại nếp sinh hoạt của Tăng đoàn xưa.
Theo quan niệm của Tổ sư, sự chấn hưng Phật giáo cần chú trọng đến phương diện thực hành, trước tiên người tu sĩ phải gương mẫu, nghiêm túc thực hành Giới – Định – Huệ, lấy tứ y pháp (Y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y trí bất y thức, y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh) và nếp sống lục hòa kính (Thân hòa đồng trú, Khẩu hòa vô tranh, Ý hòa đồng duyệt, Lợi hòa đồng quân, Giới hòa đồng tu, Kiến hòa đồng giải) làm nền tảng cho sự tu học.
Tư tưởng dung hợp hai truyền thống Phật giáo
Trong bước chuyển mình của quá trình chấn hưng Phật giáo, Tổ sư Minh Đăng Quang đã du hợp hai truyền thống Phật giáo lâu đời ở Việt Nam. Sự dung hợp này biểu hiện qua 3 yếu tố: Giới luật, trang phục và ẩm thực.
Giới Luật
Giới luật được xem là cuội nguồn của đạo Phật: “Tỳ Ni tạng trụ, Phật Pháp cửu trụ. Tỳ Ni tạng diệt, Phật Pháp Diệc Diệt (Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, giới luật còn – Phật pháp còn, giới luật diệt – Phật pháp diệt)”((Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đại giới đàn Diệu Tâm tấn đàn truyền giới Tỳ-Kheo, 15/11/2019, https://phatgiao.org.vn/dai-gioi-dan-dieu-tam-tan-dan-truyen-gioi-ty-kheo-d38076.html)). Trong đó, Giới là những điều cấm, điều răn cho bản thân. Luật là những phép tắc luật lệ của tổ chức.
Giới Luật Khất sĩ hay Luật Khất sĩ là những phần quy định về đời sống, sự sinh hoạt, cách tổ chức, tư cách cá nhân, … Hệ phái Khất sĩ đã xây dựng một hệ thống giới luật biệt truyền trên nền tảng Thích ca Chánh pháp.
Hệ thống giới luật đã thể hiện rõ sự đặc trưng riêng thông qua việc dung hợp giữa giới luật Nam tông và Bắc tông. Giới luật Khất sĩ đã căn cứ vào Luật Tứ Phần do Đại sư Đàm-đế dịch ở các phần Giới bổn và Kinh Hoa Nghiêm trong những câu chú nguyện mẫu (Phật giáo Bắc tông), Kinh Phạm Võng trong phần Giới Phật tử và Kinh A – hàm trong phần Kệ pháp của 7 Đức Phật (Phật giáo Nam tông)((Nhiều tác giả, Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, HCM, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 597.)).
Đối với quy định xuất gia, trong khi Phật giáo Bắc tông cho phép ni giới xuất gia thì Phật giáo Nam tông không thu nhập ni giới. Trên tinh thần đó, Hệ phái Khất sĩ đã chủ trương cho phép ni giới xuất gia và thành lập giáo đoàn Ni (Tỳ kheo Ni là 348 giới và Tỳ kheo với 250 giới).
Tổ sư đã sử dụng hệ kinh điển Pali (Phật giáo Nam tông) bên cạnh hệ kinh điển Sanskrit (Phật giáo Bắc tông). Mặt khác, Tổ sư đã chọn Tứ y Pháp Trung đạo của Phật giáo Nam tông và Tứ thánh chủng của Phật giáo Bắc Tông (các vị Khất sĩ trước khi thọ giới Sadi đều phải thuộc Tứ y pháp).
Trang phục
Đối với Phật giáo Bắc tông, trang phục của tu sĩ có nhiều loại và tùy thời điểm: áo vạt khách (mặc tại chùa), áo nhật bình (mặt khi ra đường); áo tràng (hậu), y (mặc khi làm lễ) và sự khác biệt giữa Tăng – Ni cũng như màu sắc của từng loại trang phục. Đối với Phật giáo Nam Tông, trang phục chư Tăng bao gồm 3 loại y: y thượng (y vai trái), y trung và y hạ (y nội)((Thích Giác Nguyên, Hệ phái Khất sĩ – 70 năm hình thành và phát triển, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2014, tr. 203.)).
Từ hai quy định về trang phục của hai truyền thống trên, Tổ sư Minh Đăng Quang đã kết hợp và tạo nên một nét sắc thái riêng về trang phục cho Hệ phái Khất sĩ. Quy định Tăng – Ni có ba y: y thượng, y trung và y hạ.
Pháp phục của chư Tăng căn bản giống với Nam Tông. Khi ở tịnh xá chư Tăng mặc y chừa cánh tay và khi đi ra ngoài thì đắp y trùm. Khi làm công quả ở tịnh xá hay ở trong cốc một mình đọc sách, tham thiền thì chư Tăng sử dụng y trung và y hạ((Giác Hoàng, Pháp phục truyền thống Hệ phái Khất sĩ, 2016, https://nigioikhatsi.net/giao-phap-ks/phap-phuc-truyen-thong-he-phai-khat-si.html)).
Đối với Ni giới, về pháp phục cơ bản giống chư Tăng, bao gồm 3 y. Trong đó, y trung của Ni giới là chiếc áo dài, nút thắt bên hông phải và trong quy định của y hạ chư Ni còn được sử dụng thêm quần dài((Thích Giác Nguyên, Hệ phái Khất sĩ – 70 năm hình thành và phát triển, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2014, tr. 205.)). Chiếc áo dài của Ni giới Hệ phái Khất sĩ có phần trên giống như chiếc áo vạt hò của miền Tây Nam Bộ và kế hợp với chiếc áo dài truyền thống của Việt Nam. Có thể thấy, chiếc áo dài của Ni giới Hệ phái Khất sĩ cũng có những nét tương đồng giống với chiếc áo dài của Phật giáo Bắc tông.

Ẩm thực
Phật giáo Nam tông quy định tu sĩ ăn một ngày hai thời: điểm tâm và ăn ngọ. Do đi khất thực nên vật phẩm rất đa dạng, cả thực phẩm chay – mặn. Các tu sĩ được phép ăn tam tịnh nhục (mắt không thấy giết, tai không nghe giết và không nghi giết). Tổ sư Minh Đăng Quang kế thừa và dạy cho người xuất gia thời gian ăn từ quá ngọ đến ngọ mai như trong điều thứ 9 của giới Sadi: “Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ đến ngọ mai (phải ăn chay)”((Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Hệ phái Khất sĩ, Chơn lý Luật nghi Khất sĩ (riêng giới xuất gia), Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 2017, tr. 46.)) và “Nên sự ăn chay trong sạch của các Ngài là ngày ăn một bữa ngọ trưa, có chi ăn nấy, món ăn bằng rau trái, ăn trộn lộn xộn chẳng phân mùi vị”((Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2016, tr. 173.)), phải đi khất thực để ăn nhằm có thời gian tu học như các tu sĩ của Phật giáo Nam Tông.
Trong khi Phật giáo Nam tông chú trọng giới cấm ăn phi thời và được phép ăn tam tịnh nhục, thì đối với Phật giáo Bắc tông, mặc dù trong Luật tạng cũng không cho chư Tăng ăn chiều, nhưng được ăn khi bệnh và xem đó là một món thuốc chữa bệnh. Phật giáo Bắc tông bắt buộc việc ăn chay để nuôi dưỡng từ tâ((Một số một số vùng miền ở Việt Nam theo Phật giáo Đại thừa và một số nước chịu ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa vẫn dùng tam tịnh nhục. Trích Nhiều tác giả, Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 551.)). Với những lợi ích và ý nghĩa của việc ăn chay, Tổ sư đã quy định người xuất gia Khất sĩ phải trường chay, như quy định thứ 11 về sự đi khất thực trong Luật nghi Khất sĩ: “Không được nhận tiền, gạo, không được nhận đồ ăn mặn. Khi người đem đến cúng, mình có thể hỏi xem chay hay mặn, đó là gương dạy thiện cho người” và dứt khoát hơn trong điều thứ 18: “Nếu biết cơm có dính lỡ đồ ăn mặn, thì khi về phải cho người khác, chớ không được dùng, bằng khi túng ngặt, phải gụt rửa sạch mới được dùng”((Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Hệ phái Khất sĩ, Chơn lý Luật nghi Khất sĩ (riêng giới xuất gia), Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 2017, tr. 59, 60.)).
Qua những quy định về giới luật, trang phục và ẩm thực, có thể thấy, Tổ sư Minh Đăng Quang đã dung hòa những tinh hoa của hai truyền thống Phật giáo Nam tông và Bắc tông. Theo Thích Nhựt Chiếu nhận định: “việc kết hợp hai truyền thống Phật giáo để thành lập một hệ phái là sáng kiến độc đáo của Tổ sư. Khi Hệ phái Khất sĩ ra đời, được phật tử và dân chúng đón tiếp một cách nồng nhiệt, bằng chứng hùng hồn nhất là tốc độ phát triển rất nhanh và đến nay vẫn không ngừng lớn mạnh”((Thích Nhựt Chiếu (2006), Luật học đại cương, Giáo trình Luật học cao đẳng, Nxb. Tôn giáo, tr. 94. Dẫn theo, Thích Giác Nguyên, Hệ phái Khất sĩ – 70 năm hình thành và phát triển, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2014, tr. 184.)).
Việt hóa ngôn ngữ
Ngôn ngữ kinh tụng
Xuất phát từ một trong những nguyên nhân của phong trào Chấn hưng Phật giáo, là hầu hết kinh điển của hai tông phái Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông còn nguyên trong Hán tạng và Pali tạng nên ít được phổ biến đến mọi tầng lớp xã hội((Giác Pháp, Đóng góp của Tổ sư trong việc chấn hưng Phật giáo Việt Nam, 29/11/2013, https://daophatkhatsi.vn/giao-phap-khat-si/nghien-cuu/dong-gop-cua-to-su-trong-viec-chan-hung-phat-giao-viet-nam.html&page=14?yy=2021&mm=9)). Vì lẽ đó, Tổ sư Minh Đăng Quang hướng đến việc phổ biến giáo lý Phật giáo dựa trên cơ sở tiếng Việt và diễn đạt bằng chữ Quốc ngữ.
Bảng 1: Ngôn ngữ đọc tụng trong kinh điển của Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Nam tông và Hệ phái Khất sĩ((Tổng hợp của tác giả từ: Phật giáo nguyên thủy Theravada, Kinh tụng Nam tông Pali – Việt ngữ vựng, 2014, tr. 3. Hệ phái Khất sĩ, Kinh A Di Đà, 27/07/2014, http://daophatkhatsi.vn/kinh-a-di-da.html và Thích Trí Tịnh, Nghi Thức Tụng Kinh A Di Đà, 27/09/2010, https://thuvienhoasen.org/a5651/nghi-thuc-tung-kinh-a-di-da)).
| Phật Giáo Bắc tông | Phật Giáo Nam tông | Hệ phái Khất sĩ |
| Tán Phật | Ratanattayapūjā(Dâng hương) | Tán thán Phật |
| A-Di-Ðà Phật thân kim sắcTướng hảo quang-minh vô đẳng-luânBạch hào uyển-chuyển ngũ tu-diCám mục trừng thanh tứ đại hải.Quang trung hóa Phật vô số ức,Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biênTứ thập bát nguyện độ chúng-sanhCửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn. | Nguyên văn: Imehi dīpa-dhūp’ādi sakkārehi Buddhaṃ Dhammaṃ Saṅghaṃ abhipūjayāmi mātā-pit’ādīnaṃ guṇavantānañca mayhañca dīgharattaṃ atthāya hitāya sukhāya.Dịch: Con xin dâng các lễ vật này, nhứt là nhang đèn để cúng Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, ngưỡng cầu cho các bậc ân nhân, nhứt là cha mẹ con và con đều được sự tấn hóa, sự lợi ích, sự bình an lâu dài. |
A-Di-Đà Phật thân vàngTướng xinh, sắc tốt, minh quang ai bìBạch hào như núi Tu-DiMắt trông bốn biển so bì vẫn hơnHào quang hóa Phật vô ngầnHóa Bồ-tát chúng vô cùng vô biênĐộ sanh bốn tám lời nguyềnHàm linh chín phẩm đồng lên giác ngàn. |
Bấy giờ với điều kiện đến trường lớp khó khăn, nhân dân khó mà tiếp thu những triết lý cao siêu. Tổ sư với tâm niệm đem giáo lý của Đức Phật đến quần chúng nhân dân và người tu sĩ bằng ngôn ngữ bình dân, dễ hiểu và được sử dụng hằng ngày.
Hầu hết, giáo lý căn bản của Hệ phái Khất sĩ nằm trong bộ Chơn lý, bao gồm: Kinh tạng, luật tạng và luận tạng. Bộ Chơn lý bao gồm 69 tiểu luận, mỗi tiểu luận Tổ sư giảng giải, trình bày về một vấn đề hay một ý pháp liên hệ. Được sinh ra trên vùng đất Nam Bộ, Tổ sư truyền tải giáo lý mang những đặc trưng phù hợp với tính cách của người dân Nam Bộ như sự giản dị, mộc mạc và dễ hiểu. Như Tổ sư đã dạy trong quyển Chơn lý((Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2016, tr. 12.)):
“Nên tập sống chung tu học:
Cái sống là phải sống chung
Cái biết là phải học chung
Cái linh là phải tu chung”.
Hay:
“Mục đích của sống là biết, biết là học, cái sống là xin. Tất cả chúng sanh là đang xin lẫn nhau, tiến ra từ trong cái ác, cái bất công, cái mê muội”((Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2016, tr. 722.)).
Theo ThS. Nguyễn Trung Toàn nhận xét: “Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã khéo léo vận dụng kinh văn trong lễ tụng của Hệ phái sao cho gần gũi với đồng bào miền Nam, không bóng bẩy, không hàn lâm, mộc mạc, nhưng đậm đà sâu lắng lời Phật dạy, nhằm dễ dàng giáo hóa người dân đương thời và giúp đạo Phật đi vào đời sống người Nam Bộ như một bài ca dao mang đậm tính truyền thống nhân văn”((Nhiều tác giả, Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập, HCM, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 491.)).
Không chỉ sử dụng tiếng Việt thuần túy, Tổ sư đã truyền tải giáo lý thông qua các thể thơ song thất lục bát (chủ yếu), lục bát, thất ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn. Hình thức này đã phù hợp với người dân Nam Bộ, vừa lao động và ngâm nga kinh kệ tu dưỡng bản thân.
Như bài Dân hương trong quyển Nghi thức tụng niệm((Hệ phái Khất sĩ, Nghi Thức Cúng Dường, 27/07/2014, http://daophatkhatsi.vn/giao-phap-khat-si/kinh-tung/nghi-thuc-cung-duong.html)):
“Khói hương xông thấu mấy tầng xanh
Rốt ráo tâm con bổn nguyện lành
Trên khói hương này xin Phật ngự
Chứng minh đệ tử tấc lòng thành”.
Hay một đoạn của bài Bát nhã tâm kinh((Ni trưởng Huỳnh Liên, Bát nhã tâm kinh, 18/10/2014, https://daophatkhatsi.vn/bat-nha-tam-kinh.html)):
“Khi hành Bát Nhã Ba La,
Ngài Quán Tự Tại soi ra tột cùng.
Thấy ra năm uẩn đều không,
Bao nhiêu khổ ách khốn cùng độ qua.
Này Xá Lợi Tử xét ra,
Không là sắc đó, sắc là không đây.
Sắc cùng không chẳng khác sai,
Không cùng sắc cũng sánh tày như nhau”.
Thể loại này cũng được phổ biến của các tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hòa Hảo và Đạo Cao Đài.
+ Ngôn ngữ nghi lễ
Trong quá trình truyền bá Phật giáo rộng rãi ở các nước, các chư Tổ đã tùy theo phong tục, tập quán của mỗi dân tộc mà truyền bá giáo pháp. Ở một số nước có nền văn minh lâu đời, lễ nhạc phong phú như Trung Hoa và Tây Tạng; Phật giáo đã chuyển mình và tạo ra những hình thức nghi lễ thiêng liêng huyền bí cũng như đa dạng và phong phú hơn. Tuy nhiên các chư Tổ sư cũng thường nhấn mạnh: “Nghi lễ dù quan trọng vẫn chỉ là phương tiện dẫn dắt chúng sinh vào đạo, chứ không phải là con đường thật sự đạt đến giác ngộ”((Thích Viên Giác, Ý nghĩa Nghi lễ Phật giáo, https://www.chuabuuchau.com.vn/nghi-thuc-tong-hop/y-nghia-nghi-le-phat-giao_29303.html)).
Tổ sư Minh Đăng Quang bên cạnh sử dụng kinh văn bằng tiếng Việt và các thể thơ, Tổ sư đã đề ra nghi thức hành lễ và trì tụng rất giản đơn, nhằm thuận tiện cho người tu học. Hệ phái Khất sĩ chủ trương không dùng các loại pháp khí như mõ, trống, khánh, kèn như thường thấy trong nghi lễ của Phật giáo Bắc tông. Về phần lễ khí, Tổ sư phần nào kết hợp nghi thức của Phật giáo Nam tông, nhưng sử dụng chuông trong các thời khóa lễ, để đại chúng kỉnh lễ và hướng tâm về chánh niệm.
Để người đọc hiểu sâu và chuyển hóa thân tâm, trong Nghi thức tụng niệm của Hệ phái Khất sĩ có dạy: “Khi trì tụng chỉ đọc thường, chậm rãi, điều hòa, nghe cho dễ hiểu đặng hành theo. Chớ nên dùng sắc tướng, âm thinh trầm bỗng, du dương làm sai ý nghĩa kinh pháp”((Nghi thức tụng niệm (kinh nhật tụng của phật giáo khất sĩ),01/10/2011, http://www.anhnhiendang.com/Chi-Tiet-Thu-Vien-Chanh-Phap/39/Nghi-Thuc-Tung-Niem-(Kinh-Nhat-Tung-Cua-Phat-Giao-Khat-Si).html)). Hay trong quyển Kinh Tam Bảo – Kinh Xưng Tụng Tam Bảo có đoạn: “Tụng niệm là miệng đọc, tâm tưởng nhớ, suy nghĩ. Miệng và Tâm đều phải tịnh thanh, chuyên chú, hòa hiệp trong câu kệ, lời kinh, tiếng Pháp”((Ni trưởng Huỳnh Liên, Kinh Tam Bảo – Kinh Xưng Tụng Tam Bảo, Nxb. Tôn giáo, 2016, tr. 3.)).
Trong các lễ nghi hay các khóa lễ, Hệ phái Khất sĩ cũng vô cùng giản đơn, không có các hình thức ấn quyết, sái tịnh, … mà chỉ có chắp tay trước ngực, đối trước Tam Bảo chí thành đảnh lễ sát đất sau đó chắp tay nghiêm trang trong suốt thời tụng kinh hay khóa lễ.
Đối với thờ phụng, Tổ sư đã dạy: “Các Ngài không có bày ra sự thờ phượng bên ngoài, cùng các nghi lễ cúng kiến phức tạp, các Ngài chỉ quí trọng tư tưởng giáo lý”((Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2016, tr. 639.)).
Đối với trang phục trong các khóa lễ và thời tụng kinh, các vị xuất gia chỉ mặc y thường nhật chứ không thêm y phục khác. Chư Tăng với việc đắp y bày vai hữu. Chư Ni trong mặc áo và đắp y ngoài. Còn các phật tử thì mặc áo trắng hay còn gọi áo giới (bạch y cư sĩ) được may theo kiểu áo dài của người Việt.
Có thể thấy, với nhu cầu về tôn giáo bấy giờ, việc sử dụng ngôn ngữ thuần Việt kết hợp hài hòa với các thể thơ và đơn giản trong ngôn ngữ đã trở thành một đặc điểm quan trọng trong qua trình tồn tại và phát triển của một Hệ phái Khất sĩ.
3. Thay lời kết
Hệ phái Khất sĩ ra đời phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của nhân dân trong việc tiềm một nền giáo lý dễ hiểu của Đức Phật. Phong trào chấn hưng Phật Giáo, Tính dung hợp của hai truyền thống và đặc trưng về ngôn ngữ đã trở thành những đặc trưng mang tính riêng biệt giúp cho Hệ phái phù hợp với nhu cầu bấy giờ.
Có thể thấy, với những giá trị, đặc điểm đó, Hệ phái Khất sĩ dần khẳng định định vị trí, vai trò không chỉ trong việc cải thiện đời sống con người mà còn góp phần đối với sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
Thông tin tác giả:
Lê Thành Trung, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng. Email: trunglt@hiu.vn – Số điện thoại: 093 81 72 847



