Kênh Tàu Hủ – Giá trị lịch sử và tiềm năng du lịch đường sông

01/07/2024
Lê Thành Trung

Tóm tắt

Kênh Tàu Hủ đã từng là tuyến giao thông đường thủy quan trọng và có lịch sử lâu đời đối với vùng đất Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời đại hiện nay, với quá trình đô thị hóa, kênh Tàu Hủ đã mất dần vai trò giao thương xưa, và việc nghiên cứu về giá trị lịch sử và các tiềm năng để khai thác du lịch đường sông của kênh là vô cùng quan trọng. Vì lẽ đó, tác giả muốn khắc họa lại những giá trị lịch sử và tiềm năng phát triển du lịch của kênh Tàu Hủ. Để thực hiện bài nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập các công trình, sách, tài liệu viết lịch sử và các di sản đô thị của kênh Tàu Hủ. Bài viết đã làm rõ về các giá trị lịch sử và tiềm năng du lịch của kênh Tàu Hủ thông qua việc hình thành một trung tâm buôn bán sầm uất và một di sản đô thị. Dựa trên cơ sở của các giá trị lịch sử và yếu tố để hình thành tiềm năng du lịch của kênh Tàu Hủ, tác giả đã đưa ra những đánh giá về tính khả thi của tuyến du lịch trên kênh, góp phần bảo tồn di sản và thúc đẩy kinh tế của khu vực.

Toàn văn

Đặt vấn đề

Từ xưa, kênh Tàu Hủ đã là tuyến đường huyết mạnh trong vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là lúa gạo từ các tỉnh miền Tây lên Sài Gòn và từ Sài Gòn xuất khẩu sang các nước. Chính vì thế, kênh Tàu Hủ đã mang trên mình một giá trị lịch sử to lớn, góp phần hình thành một trung tâm kinh tế sầm uất, nơi hội tụ và giao thương của nhiều cộng đồng tộc người, đồng thời tạo ra một không gian văn hóa đa dạng cũng như để lại một di sản đô thị quan trọng cho Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay, du lịch đường sông là loại hình du lịch khá phổ biến và quan trọng. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong năm 2023 và 2024, số lượng khách du lịch đường thủy đến thành phố đạt 500 ngàn lượt khách/năm với doanh thu đạt 300 tỷ đồng/năm[1]. Một số tuyến du lịch đường sông tại thành phố hiện đang khai thác như tuyến du lịch nội đô Nhiêu Lộc – Thị Nghè, tuyến Bình Quới, tuyến du lịch Củ Chi, Cần Giờ (xuất phát từ Bến Bạch Đằng),…

Có thể thấy, việc đánh giá tiềm năng du lịch của các con sông trong bối cảnh hiện nay là rất quan trọng. Mặt khác, UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành kế hoạch phát triển sản phẩm du lịch đường thủy giai đoạn 2023 – 2025, trong đó kênh Tàu Hủ nằm trong mục “xây dựng chương trình du lịch trên tuyến: Tuyến du lịch đi Quận 1, 4, 5, 6 và Quận 8 (hướng tuyến từ bến Bạch Đằng/bến Cầu Mống – sông Sài Gòn – kênh Tẻ – kênh Bến Nghé – kênh Tàu Hủ đến bến Bình Đông hoặc tiếp tục theo kênh Đôi – Đình Bình Đông – Chợ đầu mối Bình Điền)”[2].

Tại Singapore, các khu phố cổ Chinatown và Clarke Quay tương tự như bến Quang Liêm và bến Bình Đông của kênh Tàu Hủ, hai nơi này xưa kia là nơi buôn bán, có nhiều kho chứa hàng và nhà ở san sát của các tàu buôn. Nhưng với sự quan tâm và bảo tồn đúng cách, hai nơi này đã trở thành nơi du lịch có giá trị văn hóa nổi tiếng.

Có thể nói, đề tài nghiên cứu về kênh Tàu Hủ là vô cùng quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn này. Đề tài này không chỉ khắc họa lại những giá trị lịch sử, giá trị văn hóa của kênh Tàu Hủ mà còn góp phần phục vụ cho kế hoạch phát triển sản phẩm du lịch đường thủy của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2023 – 2025.

1. Kênh Tàu Hủ với những giá trị lịch sử và tiềm năng du lịch

2.1. Kênh Tàu Hủ với những giá trị lịch sử

Về tên gọi “Tàu Hủ”

Về tên gọi Tàu Hủ, hiện nay vẫn còn nhiều cách lý giải khác nhau về tên gọi như theo học giả Trương Vĩnh Ký (viết năm 1885) và Huỳnh Tịnh Của (viết cuối thế kỷ 19), thì đoạn phố đi ngang qua rạch Chợ Lớn được gọi là Tàu Khậu, đó là cách người Triều Châu phát âm từ “thổ khố” (khu nhà gạch), sau trại âm thành Tàu Hủ.

Còn theo ý kiến khác thì cho rằng: “kinh Tàu Hủ vốn mang tên Cổ Hủ hay Củ Hủ vì khúc kinh chỗ này phình ra rồi thắt lại giống như cổ hủ heo, cổ hủ dừa”[3] hay “Kênh Tàu Hủ vì khi dòng kênh đang dần bị bồi lấp, nước đen ngòm cùng những thứ trôi nổi trên đó làm người ta liên tưởng đến tương, chao, tàu hủ”[4].

Bản đồ Kênh Tàu Hủ chụp từ Google Map

Kênh Tàu Hủ – từ khai kênh đến một trung tâm kinh tế

Kênh Tàu Hủ xưa gọi kênh An Thông[5], mùa xuân năm Kỷ Mão Gia Long thứ 18 (1819), vua hạ chiếu cho Phó Tổng trấn Gia Định – Hoàng Công Lý thực hiện đào kênh: “Đào kênh Thông ở Phiên An đến sông Mã Trường (sông Ruột ngựa). Sai Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý lấy dân Phiên An hơn 10.000 người, cấp cho tiền gạo mà sai làm việc. Khi công việc xong, cho tên là sông An Thông”[6]. Về lý do đào kênh, theo Đại Nam thực lục ghi chép: “có sông từ kênh Thông, qua Sài Gòn đến Lao Giang, xa xôi, nhỏ hẹp, quanh co, nông cạn. Đến nay đổi đường cũ, đào kênh mới, từ kênh Thông thẳng đến sông Mã Trường, dài 9 dặm, ngang 7 trượng 5 thước, sâu 9 thước”[7].

Trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, sông An Thông được ghi chép: “tục danh gọi là sông Sài Gòn, ở về phía tây nam trấn lỵ, sông cũ từ cầu Thị Thông qua Sài Gòn đến sông Lao, quanh co nhỏ hẹp, khuất khúc nông cạn. Mùa xuân năm Kỷ Mão Gia Long thứ 18 (1819), khâm mệnh Gia Định thành phó tổng trấn, thị trung tả thống chế Lý chính hầu Hoàng Công Lý giám đốc dân phu trấn Phiên An, hơn 11 460 suất, chia làm ba phen, nhà nước cấp cho tiền gạo, đổi đường cũ mở kênh mới, khởi công từ cầu Thị Thông thẳng đến sông Mã Trường (Ruột Ngựa) 2129 tầm 1 thước, thành 9 dặm rưỡi (kém số cũ 997 tầm), bề ngang 15 tầm, sâu 9 thước, hai bên để đất không đều 8 tâm, đến đường quan ngang 6 tăm, bắt đầu làm từ 23 tháng giêng đến 23 tháng 4 thì hoàn thành Nhà vua cho tên là Sông An Thông”[8].

Có thể thấy, vua Gia Long đã có đánh giá về tầm quan trọng của kênh Tàu Hủ trong hệ thống giao thông đường thủy bấy giờ. Đào sông không chỉ giúp cho giao thông thuận lợi mà còn đem lại nguồn lợi về kinh tế, cụ thể được thể hiện qua sự ghi chép của Đại Nam thực lục: “Đường sông đã thông thuyền bè đi lại ngày đêm nối nhau, bên thành chỗ bến sông đô hội, người ta đều khen tiện lợi”[9] hay qua mô tả của Trịnh Hòa Đức về lợi ích của việc đào sông: Sông “sâu rộng nhanh chóng, ghe thuyền đi dài 10 dặm, tùy nước triều lên xuống mà đi lại, bơi chèo hát xướng, ngày đêm nối nhau, thực là nơi đô hội trên bến dưới thuyền”[10].

Nguồn: Đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn trước năm 1945 qua tài liệu lưu trữ

Hay kênh Tàu Hủ qua ghi ghi chép của Thống đốc thuộc địa – John White: Thành phố Sài Gòn lúc đầu là ở phía cực tây của địa điểm gần thành Sài Gòn, tức là Chợ Lớn thành lập trước gọi là Sài Gòn xưa. Một vài con đường ở Chợ Lớn được lót bằng đá phiến; các bến tàu làm bằng gạch dài gần một dặm dọc theo sông. Ông ghi chép về con kênh Tàu Hủ như sau: “Ở phía tây của thành phố, một sông vừa được đào (thật ra chưa hoàn tất khi chúng tôi đến) dài 23 dặm Anh, nối với một nhánh sông của sông Cam Bốt, từ đó thông thương qua đường thủy với Cam Bốt, mà người Việt gọi là Cou-maigne (Cao Miên). Kênh này sâu 12 feet (5m), rộng 80 feet (32m), được đào xuyên qua rừng đầm lầy lớn bao la, trong vòng 6 tuần. Hai mươi sáu ngàn dân công, ngày và đêm đào công trình vĩ đại này”[11].

Kênh Tàu Hủ được xem là tuyến đường thủy quan trọng trong hệ thống sông ngòi bấy giờ, điều này được khắc họa rõ nét qua ghi chép của Leopold Pallu về rạch Bến Nghé và kênh Tàu Hủ như sau: “Rạch Bến Nghé – Kênh Tàu Hủ nối với kênh Bà Bèo (arroyo commercial, sau này gọi là kênh Tháp Mười nối sông Vàm Cỏ Tây với sông Tiền, là kênh buôn bán thương mại chính giữa Sài Gòn – Chợ Lớn với miền Tây). Từ kênh Tàu Hủ còn phải qua kênh Ruột Ngựa đến sông Rạch Cát hay sông Chợ Đệm đến sông Vàm Cỏ trước khi đến kênh Bà Bèo để đi qua sông Tiền) và họp với các kênh rạch khác tạo thành một đường giao thông huyết mạch, đổ vào sông Cambodge mà tất cả thương mại ở miền Tây (basse Cochinchine) dựa vào”[12].

Kênh Tàu Hủ đã góp phần tạo nên một trung tâm thương mại sầm uất:

Thứ nhất, là nơi đang dạng hàng hóa. Theo Gia Định thành Thông chí ghi chép về các mặt hàng buôn bán ở Sài Gòn xưa (nay là chợ Bình Tây): “cách 12 dặm ở vào tả hữu đường cái quan, ấy là đường lớn, thẳng xuống ba phố đến tận bến sông, ngang ở giữa có một đường dưới ven sông, một đường đều cùng xâu suốt nhau như hình chữ điền, mái nhà liền nhau, góc nhà cụng nhau, người Kinh người Trung Quốc ở lẫn nhau, dài độ 3 dặm buôn bán các thứ gấm đoạn đồ sứ, các thứ giấy, các thứ châu báu. Hàng sách, hiệu thuốc, phố chè, hàng miến, bến sông phía nam, phía bắc không thứ gì là không có”[13], phố chợ đông đúc náo nhiệt. Hay “ở giữa phía đông đường lớn có chợ Bình An, hải vị sơn hào, địa sản thổ hóa, đến đêm còn đốt đuốc để mua bán”[14] và “năm 1830, Chợ Lớn đã là một thị trường rất quan trọng, nơi người Hoa gọi là Tai – ngon và người An Nam gọi là Sài Gòn”[15]. Sự đa hàng hóa còn thể hiện rõ qua sự ghi chép của bác sĩ George Finlayson như sau: “Các hàng chợ Sài Gòn chứa nhiều hơn tất cả các thứ hàng ở Bingeh (Bến Nghé). Các nhiễu, kếp đen (crape) Trung Hoa, Bắc Kỳ (Tonkin), lụa, statin, quạt Trung Hoa, đồ gốm,.. là những loại thường có trong các tiệm”[16].

Thứ hai, về sự lưu thông của ghe thuyền trên kênh Tàu Hủ. Theo sự mô tả của Charles Lemire vào năm 1884 đã cho thấy sự nhộn nhịp của ghe thuyền “các tàu chở khách từ Sài Gòn vào chợ Lớn theo rạch Bến Nghé và kênh Tàu Hủ là rất thường, cứ mỗi nửa tiếng là có giá 0,25 fr” hay sự mô tả của các con rạch và các kênh khác ở Chợ Lớn: “những ghe của người An Nam, xuồng tàu cá, ghe của Cam Bốt đi qua lại và đậu san sát trong những kênh rạch này. Những ghe xuồng như những hành lang nổi, dài, hình chữ nhật, làm bằng gỗ, độn tre bên ngoài. Những tàu khác có khoang cá mà người An Nam dùng để chứa cá tươi mà họ đem ra chợ bán,…[17].

Thứ ba, là việc hình thành các công ty, nhà máy xay xát và các kho chứa, bến bãi ở dọc kênh Tàu Hủ.

Vào cuối thế kỷ 19, vùng Chợ Lớn xuất hiện nhiều nhà máy xay như năm 1869, sau khi lập nhà máy xay ở Khánh Hội, một nhóm thương gia đã lập nhà máy ở Chợ Lớn, sau đó năm 1876, một nhà máy đầu tiên của người Hoa được thành lập. Năm 1882, người Pháp lập thêm một nhà máy nữa. Chính quá trình xây dựng các nhà máy xay lúa đã giúp việc xuất khẩu gạo tăng hơn gấp đôi, đồng thời đã thu hút nhiều thợ máy, thợ phụ, phu khuân vác, những người buôn bán trên bên và dưới sông tạo nên một khung cảnh sầm uất “trên bến dưới thuyền”. Theo nhà văn Sơn Nam miêu tả: “Mùa lúa cả vùng rộn rịp ngày đêm, người làm công luôn luôn thiếu hụt” và “số gạo xuất cảng, cũng trong vòng 20 năm tăng gia từ mức 300.000 tấn lên 750.000 tấn[18]. Trong đó, người Hoa đó vai trò quan trọng trong việc chuyên chở lúa về Sài Gòn – Chợ Lớn, sau đó bán lại cho các nhà máy xay xát (phần lớn những người chủ nhà máy là người Hoa”. Nhiều nhà máy và công ty lúa gạo được xây dựng dọc theo kênh Tàu Hủ[19]:

  • Nhà máy Man Cheung Yeun (Vạn Xương Nguyên), Quai de Mytho (bến Trần Văn Kiển, nay là đại lộ Võ Văn Kiệt).
  • Rizerie de l’Union và Rizerie “Prient” (Chợ Lớn, Bình Tây), trụ sở chính ở số 45 Quai de l’Arroyo Chinois (bến Chương Dương).
  • Nhà máy Yee Cheong (Di Xương) và công ty Yee Tye & Co. do

Và một số công ty và nhà máy khác như Công ty Vạn Nguyên (221 Quai de Mytho), Công ty Vạn Thuận An, nhà máy Vạn Dụ Nguyen, nhà máy Ban Teck Guan,… Riêng nhà máy xay lúa, năm 1897, có 9 nhà máy xay lúa (8 ở Chợ Lớn và 1 ở Khánh Hội)[20].

Về các kho chứa hàng, do số lượng hàng hóa nhiều vô số kể đã tạo ra nhu cầu xây dựng các kho bãi để chứa hàng hóa. Nhiều kho chứa được hình thành dọc kênh để chứa các mặt hàng như “các kho chứa gạo, đường, cây chám, sáp ong, lụa, gốm men, gốm đất, da trâu, bò, da rắn, da cọp, chim, khô, đậu phộng. Vào trong các kho ta sẽ thấy đủ loại cân đo với kích thước khác nhau, các bao hàng, các mẫu hàng giữa rất nhiều các nhân viên, các cu li hay công nhân khiêng hàng”[21].

Về các bến bãi, kênh Tàu Hủ đã hình thành nhiều bến phục vụ nhu cầu giao thương như bến Chương Dương, bến Hàm Tử, bến Bình Tây, bến Quang Liêm (Qui de My Tho) và bến Bình Đông. Leopold Pallu đã mô tả sự nhộn nhịp tại các bến bãi ở Chợ Lớn như sau: “Thành phố trông náo nhiệt bởi sự di chuyển rất đông của cu li người Hoa và An Nam, không ngừng khiên tải lên xuống các bao gạo, tiền đồng, dê con và cá khô[22] hay “những bến tàu mà người ta thấy tàu đậu san sát, các cu li luôn hoạt động, các nhân viên kho hàng, các tiểu thương, tất cả tạo thành một tập hợp rất lý thú”[23].

Có thể nói, Kênh Tàu Hủ đã có những giá trị lịch sử quan trọng trong suốt quá trình hình thành và phát triển của kênh, đồng thời tạo ra nhưng tiềm năng cho sự phát triển du lịch đường sông hiện nay.

1.2. Kênh Tàu Hủ với tiềm năng du lịch đường sông

Tiềm năng du lịch đường sông của kênh Tàu Hủ được thể hiện qua những di sản đô thị dọc kênh bao gồm di sản vật thể và phi vật thể.

Di sản văn hóa vật thể

  1. Quần thể di tích của người Hoa ở Chợ Lớn

Các hội quán (miếu hay chùa) được xem là nơi sinh hoạt văn hóa và giáo dục của người Hoa. Đồng thời là nơi gìn giữ và phát huy các giá trị nghệ thuật văn hóa truyền thống của cộng đồng. Các nghệ nhân đã lưu truyền các giá trị nghệ thuật thông qua kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, hội họa,… tại các hội quán.

Kiến trúc của các Hội quán theo kiểu “nội công, ngoại quốc”. Chữ công ở giữa là vị trí những khu vực thờ phụng, gồm có các khu vực: tiền điện, trung điện và chính điện. Phạm vi phía ngoài chính là khu vực hoạt động của hội quán như hội họp, tiếp khách; ngoài cùng là bức tường xây bằng gạch kiên cố bao xung quanh. Trước khi vào tiền điện, trung điện, chính điện bao giờ cũng phải đi qua một khoảng sân trống gọi là “thiên tỉnh” hay “giếng trời”, đây là nơi có tác dụng để lấy ánh sáng, không khí và cũng là lối để thoát khói hương[24].Các miếu thờ nổi bật với hình dáng và trang trí bên ngoài như ngói có tráng men màu xanh lá cây hay vàng, các quần thể biểu tượng bằng gốm (gốm sứ nổi tiếng nhất của Hoa Nam, Trung Quốc và kết hợp các lò gốm ở Chợ Lớn); trang trí bờ nóc với các tượng gốm, những mảng phù điêu bằng gốm với các đề tài “lưỡng long tranh châu”, “ngư hóa long”, “bát tiên”, “hòa hợp nhị tiên”…

Nét độc đáo của không gian thờ tự của người Hoa còn là sự phối hợp bài trí của các hiện vật như tượng, bài vị, hoành phi, sắc phong,… tạo nên một không gian trang nghiêm và hoàn chỉnh.  

Một số di tích hội quán như di tích hội quán Minh Hương Gia Thạnh, Hội quán Nhị Phủ, Hội quán Lệ Châu, Hội quán Quỳnh Phủ, Hội quán Hà Chương, Hội Quán Nghĩa Nhuận, Hội quán Ôn Lăng và Hội Quán Tuệ Thành.

Cụ thể, ở một số hội quán:

Hội Quán Tuệ Thành còn gọi là chùa/miếu Bà Thiên Hậu, nằm ở số 710 đường Nguyễn Trãi, phường 11, quận 5, Tp. Hồ Chí Minh. Đây là một trong những ngôi chùa lâu đời của người Hoa Quảng Đông, tuy chưa xác định năm xây dựng (có ý kiến cho rằng năm 1760)[25]. Hội Quán Tuệ Thành là nét đẹp văn hóa, một trong những ngôi chùa cổ của cộng đồng người Hoa gốc Tuệ Thành.

Một số nét đặc sắc của Hội quánbởi là nơi lưu giữa 400 đồ cổ, các bức tranh nổi hình tứ linh, nhiều đỉnh trầm, lư trầm và lư hương[26]. Ở nóc miếu được trang trí hoa lá, quần thể tiểu tượng bằng gốm như Thầy trò Đường Tăng, Bát Tiên, Lưỡng long tranh châu, Phúc Lộc Thọ,…

Nguồn: Internet

Hội quán Nghĩa An hay còn gọi là chùa Ông/miếu Quan Đế,tọa lạc tại  76 đường Nguyễn Trãi, Phường 11, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh. Chùa Ông là một trong những ngôi chùa cổ của cộng đồng người Hoa gốc Tiều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Theo tài liệu phân loại để xếp hạng di tích của hội Đông Dương học (SEI), Hội quán Nghĩa An được xây dựng năm 1840[27]. Hội quán có kiến trúc cổ mang đậm dấu ấn Trung Hoa thông qua đề tài như lưỡng long tranh châu, tứ linh, mai lan trúc cúc,… hay các tuồng tích: Tam Quốc chí. Ở Hội quán nổi tiếng với cổ vật là chiếc chuông đồng treo ở chánh điện có ghi niên đại năm 1840 và các hoành phi, câu đối chạm khắc tinh vi và sắc sảo.

Hội Quán Minh Hương, tọa lạc tại số 380 đường Trần Hưng Đạo, phường 11, quận 5, được xây dựng từ năm 1839. Hội quán là nơi sinh hoạt, hội họp của người Minh Hương. Hội quán thờ các quan lại như Trần Thượng Xuyên, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh và đặc biệt vị thần chính của Hội quán là Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh.

  • Loại hình di tích tín ngưỡng – tôn giáo

Chùa Sắc tứ Huệ Lâm hay còn gọi là chùa Huệ Lâm, tọa lạc tại số 154 đường Tùng Thiện Vương, phường 11, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỳ XIX, nổi bật với các hiện vật bao gồm: tượng phật (gỗ thạch cao), phù điêu (gỗ), hoành phi (gỗ), liễn (gỗ), cột gỗ có chạm câu đối ở chính điện và các bài vị thờ (gỗ).

Hiện chùa Sắc Tứ Huệ Lâm mang nét kiến trúc cổ kính với kiểu nhà năm gian hai chái, cột gỗ mái ngói cùng các hiện vật giá trị. Chùa Huệ Lâm là một danh lam được vua Thành Thái ban sắc phong tặng và ngày 12/10/2005, Chùa được về xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh thành phố và được khoanh vùng bảo vệ theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam theo Quyết định số 186/2005/QĐ-UBND.

Nhà thờ Cha Tam (Nhà thờ St. Francis Xavier) là một nhà thờ cổ, tọa lạc tại số 25 đường Học Lạc, phường 14, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà thờ do linh mục Phanxicô Xaviê Tam Assou, người Hoa khởi công ngày 03/02/1900 và hoàn thành ngày 10/01/1902. Nhà thờ được xây dựng theo kiến trúc Gothique, đậm chất phương Tây, nhưng yếu tố văn hóa Hoa vẫn được coi trọng thông qua việc trang trí những hoành phi, liễn đối giống như đền miếu người Hoa. Nhà thờ ấn tượng với cổng nhà thờ xây theo kiểu Tam quan, tên nhà thờ ghi bằng chữ Hán, mái lợp ngói âm dương. Ở nóc nhà thờ còn có gắn hoa sen, ở hai bên cửa ra vào được trang trí hai bức liễn viết bằng chữ Hán.

  • Loại hình cảnh quan kiến trúc:

Khu nhà ở, hẻm cổ và cửa hàng ở Chợ Lớn

Ở Chợ Lớn có các cửa hàng mặt phố như trên các phố như Triệu Quang Phục, phố Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi. Các ngôi nhà dọc phố với kiến trúc nhà ống mái lợp ngói màu đỏ, tạo thành các dãy phố kiến trúc độc đáo. Các kiến trúc hiểm cổ, nhà ở, cửa hàng,… được xây dựng khoảng thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Khu phố cổ ở ngã tư Hải Thượng Lãn Ông – Triệu Quang Phục (quận 5), khối nhà cổ được xây dựng theo phong cách kiến trúc đặc trưng của người Hoa và pha trộn kiến trúc Pháp.

Các Bến Chương Dương, Hàm Tử, Bình Tây, Bình Đông

Ngày nay các bến Chương Dương, Hàm Tử, Lê Quang Liêm đã có nhiều thay đổi do việc xây dựng đại lộ Đông Tây. Hiện nay chỉ còn một dãy nhà phố cổ ở dọc bến Chương Dương, còn Bến Hàm Tử đã được thay bằng các nhà ở có kiến trúc hiện đại.

Bến Bình Đông thuộc quận 8, đối diện với bến Bình Tây (nay là Đại lộ Võ Văn Kiệt, trước đó là bến Trần Văn Kiểu, bến Lê Quang Liêm, quai de Mytho). Hiện nay, ở Bến Bình Đông vẫn còn các vết tích của các kho hàng, nhà máy xay xát thông qua một số kho hàng và dãy nhà cổ. Dãy phố cổ mang đậm kiến trúc thời Pháp.

Bến Bình Đông, Nguồn: Internet

Chợ Bình Tây

Chợ Bình Tây là một trong những ngôi chợ lớn ở TP. HCM, tọa lạc tại số 57, Tháp Mười, Phường 2, Quận 6. Chợ được xây dựng vào năm 1928, do kiến trúc sư người Pháp thiết kế mang đậm kiến trúc phương Đông, tiêu biểu như trang trí “lưỡng long tranh châu”, mái chợ lợp bằng ngói âm dương theo kiểu chống lớp, ở các góc mái có nét uốn lượn theo kiểu chùa phương Đông.

  • Di tích lịch sử –  khu trại giam chợ quán

Khu trại giam trong bệnh viện Chợ Quán nơi Tổng Bí Thư Trần Phú hy sinh được xếp hạng là di tích lịch sử theo Quyết định số 1288 – VH/QĐ của Bộ Văn hóa ngày 10/11/1988. Khu trại giam trong bệnh viện Chợ Quán (bệnh viện Chợ Quán được xây dựng xong năm 1864) được Pháp xây dựng nhằm giam những người cách mạng bị bệnh, phần lớn do bị tra tấn. Nơi đây được xem là địa chỉ đỏ, nơi ghi nhớ công lao và chí khí của Tổng Bí thư đầu tiên Trần Phú và các chiến sĩ cách mạng. 

“Di tích vẫn còn in đậm dấu vết của gông cùm, xiềng xích dưới chế độ thực dân; cũng như những dấu ấn về cuộc chiến đấu kiên cường bất khuất của các chiến sĩ cách mạng với những khẩu hiệu đấu tranh bằng máu còn rõ nét trên các bức tường”[28].

Di sản văn hóa phi vật thể

  1. Về các lễ hội

Dọc kênh Tàu Hủ, và đặc biệt khu vực Chợ Lớn nổi bật với các lễ hội truyền thống mang đậm tính dân gian. Một số ngày lễ hội và Tết như Tết Nguyên Đán, Lễ hội Nguyên Tiêu (15/01 âm lịch), Tết Đoan Ngọ (05/05 âm lịch),  Tết Trung Thu,.. Lễ vía Quan Công (13/01 âm lịch), Lễ vía Bà Thiên Hậu (23/3 âm lịch), Lễ vía Ngọc Hoàng (09/1 âm lịch),…

Cụ thể, qua một số lễ hội sau:

 Lễ hội Nguyên Tiêu của người hoa: hay còn gọi Lễ Thượng Nguyên, Lễ Hoa Đăng, là một trong những lễ hội cổ truyền của Người Hoa và cả người Việt (đêm trăng rằm đầu tiên của năm mới). Lễ hội Nguyên tiêu được tổ chức với quy mô lớn từ 1990 tại quận 5, trong lễ hội diễn ra các hoạt động biểu diễn như: diễu hành xe hoa, Bát tiên đi cà kheo, múa lân sư rồng, diễn tuồng cổ người Hoa,…

Lễ hội giỗ tổ nghề kim hoàn: Lễ hội giỗ Tổ nghề kim hoàn được tổ chức ở Hội quán Lệ Châu quận 5, TP.HCM (nhà thờ tổ nghề thợ bạc), thường diễn ra từ ngày 6 – 8/2 âm lịch. Trong những diễn ra lễ hội, Hội quán được trang hoàng rực rỡ nến và hương được thắp từ trong đến ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm. Với sự tham gia của đông đảo nghệ nhân, thợ kim hoàn tề tựu về đề thờ Tổ để tiến hành tổ chức lễ hội. Nội dung chủ yếu của Lễ hội gồm có: ngày 6/2 là ngày chuẩn bị lễ, họp mặt liên hoan và văn nghệ (hát Bội hoặc hát Cải lương); các ngày tiếp theo diễn ra các lễ như: Lễ Chấp Minh (ra mắt Ban tế lễ và thỉnh Tổ về dự), Lễ Chánh Tế (tạ ơn Tổ) và Lễ Tế Nghĩa Từ (tưởng niệm các thế hệ nghệ nhân kim hoàn đã qua đời).

  • Ẩm thực:

Cũng như về lễ hội, ẩm thực khu vực này cũng không kém phần phong phú, đặc biệt là vùng Chợ Lớn. Nơi có nền ẩm thực phong phú bao gồm ẩm thực của người Hoa và người Việt.

Một số món ăn của Người Hoa có thể kể đến như Dimsum, vịt quay Bắc Kinh, mì kéo tươi, phá lấu, hủ tiếu sa tế, món cháo Tiều, há cảo, sủi cảo, hoành thánh, bánh bao xá xíu, mì xào giòn,… hay các món tiềm: vịt, thịt heo, gan, tiềm cật với một số vị thuốc Bắc như đảng sâm, táo Tàu, thục địa, hoài sơn,…  Về đồ ngọt có chí mè phủ (chè mè đen), lục tàu xá (chè đậu xanh), hùng tàu xá (chè đậu đỏ), khi nấu có cho thêm vỏ quýt khô (còn gọi là trần bì). Ngoài ra, còn có hột gà trà, sâm bổ lượng, trà hạt nhân, bạch quả, hạt sen,..

Đối với các món ăn của người Việt có: Bánh mì, phở, bún bò, bún riêu, cơm tấm, gỏi cuốn, nem nướng,… về các món ngọt: chè ba màu, chè đậu, chè thái, bánh bò, bánh da lợn, bánh chuối hấp, chè trôi nước, chè sương sa hạt lựu, bánh ít trần,…

  • Một số các hình thức nghệ thuật khác

Biểu diễn Lân Sư Rồng

Từ lâu đời, múa Lân Sư Rồng đã là một phần không thể thiếu trong các hoạt văn hóa của người Hoa với khát vọng cầu những điều tốt lành, cát tường. Múa Lân, Sư, Rồng cần dùng trống bởi tiếng trống tượng trưng cho sấm. Ngoài ra, còn kết hợp với các loại nhạc cổ loại thổi, tấu,… tạo nên không khí rộn ràng, náo nhiệt.

Nghệ thuật Múa Lân, múa Sư, múa rồng là nghệ thuật đặc sắc của người Hoa, có sự kết hợp giữa âm nhạc, vũ đạo, võ thuật,… và sự phối hợp điêu luyện của tập thể nghệ nhân.

Nghệ thuật ca kịch tuồng hát: là loại hình nghệ thuật truyền thống của người Hoa. Hiện tại ở Chợ lớn có hai dòng: Việt kịch sử dụng ngôn ngữ Quảng Đông (hát Quảng) và Triều kịch sử dụng tiếng Tiều (hát Tiều).

Loại hình này, thường được trình diễn tại các lễ hội và các ngày Tết. Các nghệ nhân với trang phục lộng lẫy với các vở diễn từ các truyện xưa của Trung Quốc như Mộc Quế Anh, Tiết Đinh San, Phụng Nghi Đình,… Bên cạnh đó, các nghệ nhân còn tiếp thu với văn hóa bản địa, từ đó có thêm một số vở kịch như Lý Thường Kiệt, Đời Cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt,…

Có thể nói, Nghệ thuật ca kịch tuồng hát là một phần không thể thiếu của vùng đất Chợ Lớn và được các nghệ nhân gìn giữ và bảo tồn.

Nghệ thuật cải lương

Cải cách hát ca theo tiến bộ

Lương truyền tuồng tích sánh văn minh

Cải lương là một hình thức nghệ thuật sân khấu của người Việt, lần đầu xuất hiện vào năm 1920. Các vở diễn cải lương hình thành từ các tiểu thuyết trong nước, dựa theo sử Việt Nam hay các câu chuyện của đời sống xã hội. Cải lương đã kế thừa hát bội về mặt xây dựng tuồng tích, động tác ngoại bộ và cách điệu để biểu diễn gồm múa, trình thức, võ thuật, hóa trang và trang phục. Một số vở cải lương tiêu biểu như Tô Ánh Nguyệt, Đời Cô Lựu, Nữa Đời Hương Phấn,… Ở Chợ Lớn, vào đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện hai rạp hát cải lương là rạp Eden Chợ Lớn (rạp Thủ Đô) và rạp Cô Tám. Cải lương không chỉ là hình thức giải trí mà còn phản ánh và gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử của người Việt.

2. Đánh giá tiềm năng du lịch trên kênh Tàu Hủ

Kênh Tàu Hủ không chỉ mang giá trị lịch sử to lớn mà còn ẩn chứa tiềm năng phát triển du lịch đường sông to lớn. Với những giá trị lịch sử và văn hóa, kênh Tàu Hủ có thể trở thành điểm nhấn quan trọng trong các tuyến du lịch đường sông tại TP. Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, kênh Tàu Hủ có điểm nhấn về lịch sử – văn hóa. Các kiến trúc cổ như các hội quán của người Hoa, đền chùa, và các di tích lịch sử khác dọc theo kênh tạo ra một không gian đầy sức hút cho du khách. Đồng thời, việc tái hiện không gian buôn bán tấp nập trên kênh Tàu Hủ, kết hợp với các hoạt động chợ nổi, sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm độc đáo và sống động về một thời kỳ lịch sử quan trọng của TP. Hồ Chí Minh.

Thứ hai, là nơi có các hoạt động du lịch đặc sắc thông qua các lễ hội và các loại hình nghệ thuật phong phú. Các loại lễ hội văn hóa truyền thống như lễ hội Tết Nguyên Tiêu, Lễ Kỳ Yên và các sự kiện văn hóa khác được tổ chức định kỳ sẽ thu hút sự quan tâm của du khách. Bên cạnh đó, các loại hình nghệ thuật như ca kịch tuồng hát và cải lương cũng sẽ là điểm nhấn hấp dẫn, mang lại trải nghiệm văn hóa độc đáo và phong phú cho du khách.

Thứ ba, cần có sự quan tâm đặc biệt trong việc bảo tồn các di tích như các kiến trúc cổ, các di tích văn hóa, bến tàu,… Mặt khác, cần nâng cao chất lượng về cơ sở hạ tầng bao gồm các bến tàu, cầu cảng và các dịch vụ hỗ trợ du lịch góp phân tạo điều kiện thuận lợi cho du khách tham quan kênh Tàu Hủ an toàn và tiện nghi.

3. Thay lời kết

Tóm lại, kênh Tàu Hủ đã có giá trị lịch sử to lớn về việc phát triển kinh tế – xã hội vùng đất Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Nam Bộ nói chung. Ngày nay, với những giá trị di sản đô thị để lại, kênh Tàu Hủ đã hội đủ các tiềm năng phát triển du lịch sông nước. Việc phát triển du lịch không chỉ giúp bảo tồn di sản mà còn mang lại lợi ích về kinh tế – xã hội cho khu vực. Vì lẽ đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử, di sản đô thị của kênh Tàu Hủ là điều cần thiết và đóng vai trò tiên quyết cho sự phát triển du lịch bền vững.


[1] Trang tin Điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành kế hoạch phát triển sản phẩm du lịch đường thủy TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2023 – 2025, 09/08/2023, https://bvhttdl.gov.vn/tp-ho-chi-minh-ban-hanh-ke-hoach-phat-trien-san-pham-du-lich-duong-thuy-giai-doan-2023-2025-2023080815285739.htm

[2] Trang tin Điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành kế hoạch phát triển sản phẩm du lịch đường thủy TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2023 – 2025, 09/08/2023, https://bvhttdl.gov.vn/tp-ho-chi-minh-ban-hanh-ke-hoach-phat-trien-san-pham-du-lich-duong-thuy-giai-doan-2023-2025-2023080815285739.htm

[3] Kênh Tàu Hủ, 01/12/2010, http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/Lists/Posts/Post.aspx?List=ae22a659%2Daebe%2D41ba%2Daa8a%2D5b48611a1e11&ID=55

[4] Những dòng kênh lịch sử của đất Sài thành,  28/06/2018, https://ct.qdnd.vn/chuyen-de/nhung-dong-kenh-lich-su-cua-dat-sai-thanh-522550

[5] Vị trí khoảng từ Nguyễn Tri Phương cho đến giao với kênh Tân Hóa – Lò Gốm (vị trí cầu Lò Gốm trên đại lộ Võ Văn Kiệt).

[6] Viện sử học (2002), Đại Nam thực lục, tập 1, Hà Nội, Nxb. Giáo dục, tr. 982.

[7] Viện sử học (2002), Đại Nam thực lục, tập 1, Hà Nội, Nxb. Giáo dục, tr. 982.

[8] Trịnh Hoài Đức (1999), Gia Định Thành thông chí, Nxb. Giáo dục, tr. 34.

[9] Viện sử học (2002), Đại Nam thực lục, tập 1, Hà Nội, Nxb. Giáo dục, tr. 982.

[10] Trịnh Hoài Đức (1999), Gia Định Thành thông chí, Nxb. Giáo dục, tr. 34.

[11] Nguyễn Đức Hiệp (2018), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 75 – 76.

[12] Léopold Palludela Barrière, Histoiredel’Expedition de Cochinchineen 1861, Berger-Levrault et Cie, Paris 5 Rue des Beaux-Arts, 1888, http://gallica. bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5783366m.r=cochinchine+Leopold+Pallu. Dãn theo, Nguyễn Đức Hiệp (2018), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 274.

[13] Trịnh Hoài Đức (1999), Gia Định Thành thông chí, Nxb. Giáo dục, tr. 187.

[14] Trịnh Hoài Đức (1999), Gia Định Thành thông chí, Nxb. Giáo dục, tr. 188.

[15] Charles Lemire (1869), Cochinchine française et royaume de Cambodge, Paris, Challamel Aîné, Libraire-Éditeur, tr.336, 337. Dẫn theo, Trung tâm lưu trữ quốc gia II (2022), Đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn trước năm 1945 qua tài liệu lưu trữ, Hà Nội, Nxb. Thông tin và Truyền thông, tr. 108.

[16] Dẫn theo, Nguyễn Đức Hiệp (2018), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 91.

[17] Charles Lemire, L’Indo-Chine. Cochinchine française, royaume de Cambodge, royaume d’Annam et Tonkin; 3º edition, Challamel aîné (Paris), 1884. Dẫn theo, Nguyễn Đức Hiệp (2018), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 275 – 276.

[18] Sơn Nam (1981), Bến Nghé Xưa, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn nghệ Tp. HCM, tr. 95.

[19] Nguyễn Đức Hiệp (2018), Lịch sử doanh nghiệp và công nghiệp ở Sài Gòn và Nam Kỳ từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp Tp. HCM, tr. 277 – 278.

[20] Nguyễn Đức Hiệp (2018), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 234.

[21] Charles Lemire, L’Indo-Chine. Cochinchine française, royaume de Cambodge, royaume d’Annam et Tonkin; 3º edition, Challamel aîné (Paris), 1884. Dẫn theo, Nguyễn Đức Hiệp (2018), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 276.

[22] Léopold Palludela Barrière, Histoiredel’Expedition de Cochinchineen 1861, Berger-Levrault et Cie, Paris 5 Rue des Beaux-Arts, 1888, http://gallica. bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5783366m.r=cochinchine+Leopold+Pallu. Dãn theo, Nguyễn Đức Hiệp (2018), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 275.

[23] Charles Lemire, L’Indo-Chine. Cochinchine française, royaume de Cambodge, royaume d’Annam et Tonkin; 3º edition, Challamel aîné (Paris), 1884. Dẫn theo, Nguyễn Đức Hiệp (2018), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 276.

[24] Sở văn hóa thông tin Thành phố Hồ Chí Minh (2001), Di tích lịch sử văn hoá Thành Phố Hồ Chí Minh – Một số tín ngưỡng dân gian, Ban quản lý di tích và Danh lam thắng cảnh TP. HCM, tr. 29 – 30. Dẫn theo, Nguyễn Thị Hậu (2017), Đô thị Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Khảo Cổ học và Bảo tồn di sản, Nxb. Tổng hợp TP. HCM, tr. 156 – 157.

[25] Litana – Nguyễn Cẩm Thúy (1999), Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 250.

[26] Tài liệu “Vô cổ Miếu Bà Thiên Hậu”, tr. 17.

[27] Litana – Nguyễn Cẩm Thúy (1999), Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 200.

[28] Khu Trại giam bệnh viện Chợ Quán, nơi đồng chí Trần Phú bị giam giữ và hy sinh, 20/6/2013, http://quan5.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/lists/posts/post.aspx?Source=/gioithieu&Category=Di+t%C3%ADch+v%C4%83n+ho%C3%A1&ItemID=107&Mode=1

Tài liệu tham khảo

1. Kênh Tàu Hủ, 01/12/2010,
http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/Lists/Posts/Post.aspx?List=ae22a659%2Daebe%2D41ba%2Daa8a%2D5b48611a1e11&ID=55
2. Khu Trại giam bệnh viện Chợ Quán, nơi đồng chí Trần Phú bị giam giữ và hy sinh, 20/6/2013,
http://quan5.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/lists/posts/post.aspx?Source=/gioithieu&Category=Di+t%C3%ADch+v%C4%83n+ho%C3%A1&ItemID=107&Mode=1
3. Litana – Nguyễn Cẩm Thúy (1999), Bia chữ Hán trong hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nxb. Khoa học Xã hội.
4. Nguyễn Đức Hiệp (2018), Lịch sử doanh nghiệp và công nghiệp ở Sài Gòn và Nam Kỳ từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp Tp. HCM.
5. Nguyễn Đức Hiệp (2018), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ.
6. Những dòng kênh lịch sử của đất Sài thành, 28/06/2018, https://ct.qdnd.vn/chuyen-de/nhung-dong-kenh-lich-su-cua-dat-sai-thanh-522550
7. Nguyễn Thị Hậu (2017), Đô thị Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Khảo Cổ học và Bảo tồn di sản, Nxb. Tổng hợp TP. HCM.
8. Sơn Nam (1981), Bến Nghé Xưa, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn nghệ Tp. HCM.
9. Tài liệu “Vô cổ Miếu Bà Thiên Hậu”.
10. Trang tin Điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành kế hoạch phát triển sản phẩm du lịch đường thủy TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2023 – 2025, 09/08/2023, https://bvhttdl.gov.vn/tp-ho-chi-minh-ban-hanh-ke-hoach-phat-trien-san-pham-du-lich-duong-thuy-giai-doan-2023-2025-2023080815285739.htm
11. Trịnh Hoài Đức (1999), Gia Định Thành thông chí, Nxb. Giáo dục.
12. Viện sử học (2002), Đại Nam thực lục, tập 1, Hà Nội, Nxb. Giáo dục.

Trích dẫn

[fme_show_footnotes]

Trích nguồn

Trích Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch đường sông Nam Bộ
Facebook
Email

There are no reviews yet. Be the first one to write one.