1. Bối cảnh lịch sử
Sau khi Hiệp định Genève được kí kết, Mỹ gạt hẳn thực dân Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam và nắm độc quyền thống trị bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Dưới tầm ngắm của Mỹ, Việt Nam không chỉ là một nơi có tài nguyên phong phú mà còn có vị trí chiến lược rất quan trọng; đặc biệt là muốn bao vây hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Vì lẽ đó, ngay từ năm 1950, Mỹ đã bắt đầu can thiệp vào cuộc chiến tại Việt Nam thông qua việc viện trợ cho Pháp, nhằm thực hiện âm mưu xâm lược. Ngày 07/7/1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng bù nhìn thay thế Bửu Lộc và tiến hành viện trợ trực tiếp vào tháng 9/1954.
Trước khi Hiệp định Genève kí kết, Mỹ đã không ngừng tìm cách phá hoại việc kí kết với quan niệm: “Mọi giải pháp thương lượng đều có nghĩa là cuối cùng không những để mất Đông Dương vào tay Cộng sản mà còn mất cả Đông Nam Á. Mất Đông Dương sẽ nguy kịch đến nền an ninh của Mỹ” (Khoa Lịch sử, 2020, tr.23). Khi Hiệp định Genève được kí kết vào ngày 20/7/1954, Mỹ đã tuyên bố: “Mỹ không ký Hiệp định Genève nên không bị ràng buộc bởi hiệp định” và “Mỹ sẵn sàng phòng thủ đường ranh giới quân sự ở Việt Nam cũng như đường giới tuyến quân sự ở Triều Tiên” (Khoa Lịch sử, 2020, tr24). Bên cạnh đó, ngày 08/9/1954, Mỹ cùng một số quốc gia như Anh, Pháp và các nước chư hầu ký kết “Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á” tại Manila nhằm ngăn chặn những người cộng sản thay đổi bản đồ chính trị tại Đông Nam Á.
Từ cuối năm 1954, Mỹ đã từng bước xây dựng và củng cố những tiền đề để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới tại miền Nam Việt Nam như xây dựng bộ máy chính quyền Ngô Đình Diệm, xây dựng một lực lượng quân đội Sài Gòn và ra sức phát triển nền văn hóa thực dân.
Sau đó, ngày 13/12/1954, hòng dễ dàng trong việc thiết lập chính quyền mới, Pháp ký với Mỹ bản hiệp ước giao trách nhiệm huấn luyện cho Mỹ và ngày 19/12/1954, Pháp ký hiệp định trao quyền hành chính, chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm.
Giữa năm 1955, Chính phủ Pháp tuyên bố chấm dứt chế độ cao ủy ở miền Nam Việt Nam, đồng thời, từ bỏ trách nhiệm một bên phải thực hiện các điều khoản của Hiệp định Genève. Tháng 7/1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước và tổ chức “trưng cầu dân ý”, phế truất Bảo Đại. Tháng 10/1955, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Năm 1956, Ngô Đình Diệm tiến hành bầu Quốc hội và ban hành Hiến pháp, chính thức phá bỏ Hiệp định Genève. Dưới sự chỉ huy của các cố vấn Mỹ, chính quyền Sài Gòn tăng cường khủng bố, đàn áp lực lượng cách mạng bằng nhiều thủ đoạn thâm độc. Nhất là thi hành chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, từ năm 1955 – 1959, chính quyền Sài Gòn và cố vấn Mỹ đã tổ chức 30 chiến dịch càn quét lớn.
Qua nhiều chiến dịch tố cộng, nhân dân bị phân loại, bị khủng bố, tàn sát và bị cưỡng ép tập trung để học tập tố cộng. Chính quyền Sài Gòn thực hiện chính sách khủng bố theo phương châm “thà giết lầm còn hơn bỏ sót”, “tiêu diệt Việt cộng không thương tiếc”, “tiêu diệt cán bộ nằm vùng, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa cộng sản”. Chính quyền Sài Gòn đã cho quân đánh phá điên cuồng, giết hại những người yêu nước, những người kháng chiến cũ, những người cách mạng hoặc bị tình nghi.
Với chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tổ chức những cuộc càn quét quy mô lớn, phối hợp lực lượng vũ trang với công an, cảnh sát, dân vệ vào các vùng nông thôn.
Tính trong khoảng 1954 – 1960, chính quyền Sài Gòn đã giết hại hơn 90.000 người yêu nước miền Nam, bắt bớ tra tấn, giam cầm hơn 800.000 người khác trong hơn 1.000 nhà tù (Trương Hữu Quýnh, GS. Đinh Xuân Lâm, PGS. Lê Mậu Hãn, 2008, tr. 211).
Tại Bến Tre, Ngô Đình Diệm tiến hành điều chỉnh lại địa giới hành chính, đưa Nguyễn Văn Hối lên làm tỉnh trưởng và sắp xếp các chức vụ then chốt ở các cấp quận, huyện và các ngành trong tỉnh. Mặt khác, Ngô Đình Diệm và tay sai cho lập lại các đồn bốt đã bị diệt trước đây (hơn 300 đồn bốt bị diệt trong năm cuối 1953 đầu năm 1954) (Thạch Phương – Đoàn Tứ, 2001, tr. 379)và tích cực bắt lính để phát triển lực lượng bảo an và các loại lính khác.
Đầu năm 1955, với mục đích tạo hậu thuẫn về chính trị cũng như khoanh vùng, tạo vành đai bảo vệ chính quyền, chia rẽ người dân và giáo phái, Chính quyền Sài Gòn đã đưa sáu vạn giáo dân từ miền Bắc di cư vào, bố trí ở một số nơi xung yếu của tỉnh như Giao Thạnh (Thạnh Phú), An Hiệp (Châu Thành), các xã vùng ven biển Bình Đại, Ba Tri (Ban Chấp hành Đảng Bộ tỉnh Bến Tre, 2017, tr. 137). Mặt khác, chính quyền Sài Gòn còn tuyên truyền đầu độc các tính đồ tôn giáo trong tỉnh thông qua mua chuộc linh mục Thiên Chúa giáo và các lãnh đạo của đạo Cao Đài.
Tại tỉnh Bến Tre, chính quyền Sài Gòn lập 4 khu trù mật nhằm thiện ý đồ tách dân ra khỏi cách mạng, bao gồm: An Hiệp (Châu Thành), Thành Thới (Mỏ Cày), An Hiệp (Ba Tri) và Thới Thuận (Bình Đại). Tại các khu trù mật, nhân dân bị bắt làm căn cước, làm bản kê khai danh sách gia đình có dán ảnh, tổ chức “ngũ gia liên bảo”[2] với âm mưu dùng gia đình này giám sát gia đình kia.
Từ năm 1955, chính quyền Sài Gòn tiến hành các hoạt động khống chế và kìm kẹp: bắt nhân dân vào các tổ chức chính trị phản động, lấy lại ruộng đất của nhân dân, bắt lính để mở rộng lực lượng bảo an, dân vệ và tổ chức trưng cầu dân ý, bầu cử quốc hội riêng lẻ.
Tại Bến Tre, từ năm 1954 – 1959, chính quyền Sài Gòn đã giết hại trên 2.500 người, bắn bỏ tù 17.000 người và hàng vạn người bị đánh đập, khảo tra. Trong 2.000 cán bộ, đảng viên ở lại sau tập kết, đến năm 1959, tỉnh chỉ còn 18 chi bộ với 162 đảng viên trong 115 xã (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bến Tre, 2020, tr. 145).
Có thể thấy, sau khi Hiệp định Genève được kí kết, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã ngang nhiên xóa bỏ hiệp định và tiến thực hiện những âm mưu xâm lược nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam. Trước tình hình đó, nhân dân miền Nam nói chung và nhân dân tỉnh Bến Tre nói riêng lại bước vào một thời kỳ mời, thời kỳ đấu tranh chống lại Mỹ, nhằm giành độc lập và thống nhất đất nước.
2. Quá trình đấu tranh của tỉnh Bến Tre từ đấu tranh đòi thi hành Hiệp định
Đấu tranh đòi thi hành hiệp định (1954 – 1956)
Sau hiệp định Genève, theo chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam, tỉnh Bến Tre đã tiến hành một loạt công tác tổ chức, sắp xếp lại lực lượng vũ trang và tập kết hầu hết cán bộ chính quyền, quân đội, các ngành ra Bắc. Đồng thời chỉ để lại hơn 2.000 cán bộ, đảng viên có nhiều năm kinh nghiệm trong hoạt động cách mạng, được phân công bám đất, bám dân để lãnh đạo quần chúng đấu tranh buộc đối phương thi hành hiệp định Genève.
Bên cạnh đó, Tỉnh ủy quyết định giữ gìn một số cán bộ quân sự, một số vũ khí đủ trang bị cho một tiểu đoàn và một số dụng cụ của binh xưởng, bao gồm: trên 100 khẩu súng và phân nửa máy móc dụng cụ của công binh xưởng 1038 do quân khu giao cho tỉnh Bến Tre được phân tán cất giấu ở xã An Hòa Tây (Ba Tri), Cồn Rừng (Thạnh Phú) và Thạnh Phú Đông (Giồng Trôm) (Thạch Phương – Đoàn Tứ, 2001, tr. 377).
Sau thời gian ngắn thành lập, Tỉnh ủy mới của Bến Tre đã được thành lập vào tháng 8/1954, bao gồm 9 đồng chí. Tỉnh ủy đã chấn chỉnh hệ thống tổ chức của Đảng bộ từ tỉnh đến xã và bố trí cán bộ, đảng viên dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các chi bộ cơ sở.
Bến Tre tiến hành chuyển quân tập kết đúng thời hạn. Sau khi ngừng bắn (0 giờ ngày 11/8/1954), trong vòng 15 ngày, Bến Tre đã chuyển 3.300 cán bộ, đảng viên và chiến sĩ đến Cà Mau để tập kết ra miền Bắc.
Ngay từ tháng 12/1954, Tỉnh ủy Bến Tre đã họp và quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 9/1954) và Xứ ủy Nam Bộ (10/1954), đề ra nhiệm vụ của Đảng bộ là nhanh chóng tập hợp quần chúng, tiến hành đấu tranh chính trị, đòi thi hành Hiệp định Genève, đòi các quyền tự do dân chủ và bảo vệ lực lượng cách mạng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bộ tỉnh Bến Tre, ngay từ cuối năm 1954, phong trào đấu tranh chính trị với sự tham gia của đông đảo quần chúng như các cuộc mít tinh, biểu tình mừng hòa bình, đòi thi hành hiệp định Genève, đòihiệp thương tổng tuyển cử và đòi tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân. Trong đó, ba huyện Bình Đại, Châu Thành và Mỏ Cày được xem là nơi có quy mô và quyết liệt nhất. Cụ thể (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre, 1990, tr.113 – 115):
Ngày 19/8/1954, ở huyện Bình Đại, một vạn người biểu tình ăn mừng hòa bình, sau đó bị đàn áp và biến thành cuộc đấu tranh chống đàn áp và đòi bồi thường nhân mạng.
Ngày 25/8/1954, ở xã Phú Đức (huyện Châu Thành), một cán bộ kháng chiến bị chính quyền Sài Gòn bắt. Nhân dân đã biểu tình với khẩu hiệu: “phản đối khủng bố, trả thù người kháng chiến cũ” và đòi “phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Genève”. Cuộc biểu tình có quy tụ nhân dân ở các xã khác tham gia, số lượng lên đến 5000 người.
Ngày 13/9/1954, lính của chính quyền Sài Gòn thuộc bốt Tài Đại (Mỏ Cày) bắt dân đi làm xâu và đánh trọng thương một người dân. Nhân dân đứng lên biểu tình, khiên nạn nhân đến bốt, vừa đánh trống, vừa hô khẩu hiệu “đả đảo lính đánh dân”. Sự kiện đã quy tụ hai vạn người của nhân dân các xã An Thạnh, Đa Phước Hội, Tân Thanh Tây, Tân Thành Bình,…
Với chính sách “cải cách điền địa” của chính quyền Sài Gòn, nhân dân tỉnh Bến Tre nổi dậy đấu tranh đòi giữ nguyên canh ruộng đất do cách mạng cấp phát. Trong đó, tiêu biểu nhất là cuộc biểu tình của hơn 1000 người dân ở Ba Mỹ (huyện Ba Tri) vào cuối năm 1956.
Bên cạnh đó, tại các xã của Bến Tre đã hình thành các tổ chức lực lượng đấu tranh chính trị, quy tựu đông đảo các bà mẹ, các nữ thanh niên và nhiều gia đình binh sĩ (lực lượng nữ chiếm 80%). Mặt khác, lực lượng tự vệ ở các thôn xóm cũng được tổ chức, nhằm hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân.
Giai đoạn từ 1954 – 1956, nhân dân Bến Tre đã tiến hành đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève và tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Bến Tre nói riêng. Đảng bộ Bến Tre đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh với mục đích gìn giữ lực lượng cách mạng. Trong giai đoạn này, Bến Tre đã xây dựng được trên 1.100 cơ sở nội tuyến trong tỉnh và 400 cơ sở ngoài tỉnh, trong số này có hơn 20% là đảng viên và đoàn viên Đoàn Thanh Lao; đồng thời, tổ chức phát chứng minh thư trong gia đình binh sĩ, phát triển được trên 300 hội viên Hội yêu nước trong binh sĩ chính quyền Sài Gòn và xây dựng được 50 chi hội trong tỉnh, hai chi hội trong quân chủ lực ở Pleiku, khu dinh điền Vị Thanh (Cần Thơ) (Ban Chấp hành Đảng Bộ tỉnh Bến Tre, 2017, tr. 145).
Với cơ sở trên, lực lượng cách mạng đã khống chế được 95% tề xã và dân vệ, kể cả cảnh sát thị xã. Trong tám đại đội bảo an tỉnh, lực lượng cách mạng khống chế được từ 60 đến 80% (tiêu chuẩn khống chế là: cơ sở cách mạng bên trong qua chức vụ của mình hoặc qua việc nắm cảm tình binh sĩ, đủ sức chi phối hoạt động của đơn vị đó) (Ban Chấp hành Đảng Bộ tỉnh Bến Tre, 2017, tr. 145).
Đây được xem là những cơ sở, điều kiện và tiền đề vững chắc cho tỉnh Bến Tre bước vào cuộc chiến đấu những năm tiếp theo.
Đấu tranh giữ gìn lực lượng 1956 – 1959
Sau hai năm, chính quyền Sài Gòn đã thiết lập xong hệ thống cai trị từ Trung ương đến địa phương. Tháng 7/1956, Ngô Đình Diệm đã tuyên bố không thi hành hiệp định Genève, không thực hiện tổng tuyển cử, sau đó ban hành luật đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật phát động “tố cộng, diệt cộng” với quy mô lớn.
Trước những chuyển biến của tình hình, ngay từ tháng 6/1956, trong Nghị quyết của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh: “hình thức đấu tranh của nước ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải đấu tranh vũ trang” nhưng “như thế không có nghĩa là không dùng vũ trang trong những hoàn cảnh nhất định”. Tháng 8/1956, tài liệu “đường lối cách mạng của Đảng” do đồng chí Lê Duẩn đã vạch rõ phương hướng cho cách mạng miền Nam: “Để chống lại Mỹ – Diệm, nhân dân Miền Nam chỉ có một con đường cứu nước và tự cứu lấy mình là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có một con đường nào khác” (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre, 1990, tr.118). Hay tại hội nghị Xứ ủy Nam Bộ vào tháng 12/1956, đã xác định: “đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ” và chỉ thị thành lập “đội quân ngầm” (thực chất là lực lượng vũ trang) (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre, 1990, tr.119).
Với tinh thần đó, Tỉnh ủy Bến Tre đã tiến hành mở các đợt học tập và kiểm điểm trong toàn bộ Đảng bộ; tăng cường chỉ đạo vào khâu chủ yếu là củng cố và phát triển cơ sở quần chúng, tiến hành bồi dưỡng, nâng cao lập trường giai cấp và tư tưởng cách mạng cho cán bộ, đảng viên.
Về phía lực lượng cách mạng của tỉnh, năm 1957, đội thanh niên ngầm bắt đầu xây dựng có hệ thống với quy mô đại đội (đại đội có 4 trung đội được xây dựng ở địa bàn liên xã). Mỗi huyện được xây dựng một tổ võ trang tuyên truyền và trang bị 2 đến 3 khẩu súng.
Ngay từ đầu năm 1957, để ứng phó với chính sách “tố cộng, diệt cộng” của chính quyền Sài Gòn, Tỉnh ủy Bến Tre đã phát động phong trào toàn dân đấu tranh chống khủng bố, bảo vệ Đảng, cán bộ và đảng viên. Đồng thời, tổ chức Đảng bộ học tập giữ vững khí tiết, lý tưởng cách mạng và tạm lắng để bảo toàn lực lượng.
Về phía nhân dân, các cuộc diệt ác ôn ngày càng diễn ra phổ biến, tiêu biểu là cuộc trừ khử tên Đa (tên chuyên chỉ điểm, lùng bắt cán bộ, đảng viên) do Tỉnh ủy chủ trương vào tháng 4/1958.
Trong giai đoạn 1957 – 1958, bên cạnh hình thức đấu tranh chính trị nhân dân Bến Tre đã dùng vũ trang tự vệ để chống lại sự cai trị tàn bạo của chính quyền Sài Gòn. Đến cuối năm 1958 – 1959, phong trào đấu tranh chính trị đã có kết hợp bí mật với diệt ác, trừ gian.
Tháng 12/1958, hơn 500 người dân Bến Tre đã biểu tình tại Sài Gòn, hưởng ứng phong trào đấu tranh của cả nước trong việc chính quyền Sài Gòn đầu độc giết hại 1.000 tù nhân ở trại giam Phú Lợi.
Vào tháng 5/1959, miền Nam nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng phải đối mặt với sự khủng bố mạnh mẽ của chính quyền Sài Gòn, được đánh dấu bằng sự ra đời của luật 10/59 đặt Cộng sản ngoài vòng pháp luật. Tiếp đó, Luật số 21 được Quốc hội Việt Nam Cộng hòa thông qua, cho phép chính quyền Sài Gòn dùng máy chém để thi hành bản án tại Toà án quân sự đặc biệt.
Với sự khủng bố mới, hàng loạt cuộc diệt ác, trừ gian diễn ra sôi nổi ở các xã Phước Hiệp, Thạnh Ngãi, Thới Thuận, An Ngãi Tây, Giồng Chùa, Tân Phú Tây,… Cụ thể, tại xã Tam Phước và xã Phú An Hòa (huyện Châu Thành) nhân dân xé thẻ cử tri và thẻ căn cước và có ấp giành quyền làm chủ vào ban đêm.
Từ cuối năm 1957 đến giữa năm 1959, với sự khủng bố của chính quyền Sài Gòn, nhân dân tỉnh đã đấu tranh với nhiều hình thức khác nhau như đấu tranh chính trị, vũ trang tự vệ và sau là đấu tranh vũ trang có tổ chức. Từ cuối năm 1958 – 1959, phong trào đấu tranh kết hợp giữa chính trị và trừ gian diệt ác của nhân dân phát triển đến đỉnh cao.
Với tình hình miền Nam Việt Nam, tháng 01/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng) ra Nghị quyết về đường lối cách mạng miền Nam. Từ đây, cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, cụ thể hội nghị đã xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang hoặc nhiều, hoặc ít để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân” (Thạch Phương – Đoàn Tứ (2001), tr. 386).
Có thể thấy, trong giai đoạn này, chính quyền cai trị không thể cai trị như trước mà phải thẳng tay đàn áp lực lượng cách mạng; đồng thời, nhân dân cũng không thể chịu đựng được ách thống trị của chính quyền. Từ đó, cho thấy tình thế cách mạng chính mùi đã xuất hiện ở Bến Tre nói riêng và miền Nam Việt Nam nói chung.
3. Thay lời kết
Tóm lại, trong hai năm từ 1954 – 1956, tỉnh Bến Tre đã tiến hành đấu tranh chính trị đòi chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định Genève, phong trào đã diễn ra sôi nổi dưới sự lãnh đạo của Đảng Bộ và đạt nhiều thắng lợi. Tiếp đó, từ giữa năm 1956 -1959, với những chuyển biến của tình hình chiến trường, tỉnh Bến Tre đã có những bước chuyển về chiến lược, từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh chính trị kết hợp tự vệ và sau là đấu tranh vũ trang có tổ chức. Có thể nói, giai đoạn 1954 – 1959, được xem là tiền đề quan trọng, là điều kiện tiên quyết của thắng lợi của phong trào Đồng Khởi năm 1960.
[2] Mỗi tổ gồm 5 gia đình ở liền nhau, có tổ trưởng phụ trách. Tổ chức này nhằm xây dựng khối đoàn kết trong quần chúng để kiểm soát, phát hiện những người khả nghi, phạm pháp, những hiện tượng lạ, góp phần phòng gian, bảo mật và làm cho mọi người tự giác tham gia cùng chính quyền cơ sở giữ gìn an ninh, trật tự ở địa phương.


