1. Đặt vấn đề
Chiến thắng Điện Biên Phủ được xem là một chiến thắng vang dội, góp phần chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trong cuộc chiến tại Điện Biên Phủ, quân dân Việt Nam không chỉ chiến đấu với thực dân Pháp mà còn chiến đấu với âm mưu can thiệp của đế quốc Mĩ.
Nhưng tại sao Mĩ lại quyết định can thiệp vào trận Điện Biên Phủ năm 1954, một cuộc chiến cách xa Mĩ về khoảng cách địa lí? Sự can thiệp này diễn ra như thế nào? Vì sao Pháp lại thua trong trận Điện Biên Phủ khi có sự can thiệp của Mĩ? Những câu hỏi này đã góp phần đặt ra nhu cầu về việc phải tìm hiểu và lí giải vai trò của Mĩ trong trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Có thể thấy, việc nghiên cứu đề tài “Sự can thiệp của đế quốc Mĩ trong trận Điện Biên Phủ năm 1954” là điều cần thiết. Đề tài góp phần giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chiến lược ngoại giao của Mĩ trong giai đoạn này; đồng thời, có cái nhìn rõ hơn về tầm quan trọng của việc sử dụng các biện pháp ngoại giao và hòa bình để giải quyết các mâu thuẫn và xung đột quốc tế.

2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Bối cảnh lịch sử
Mĩ và chính sách đối với Đông Dương
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Mĩ chủ trương bành trướng chủ nghĩa thực dân mới, đây được xem là chính sách cơ bản trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mĩ nhằm đàn áp và phá hoại các phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước thuộc địa; đồng thời, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội trên thế giới.
Trong đó, Việt Nam được Mĩ đánh giá là có vị trí chiến lược trong khu vực Đông Nam Á và là vị trí sống còn trong tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội.
Tháng 8/1953, học thuyết Domino lần đầu tiên được Tổng thống Eisenhower trình bày và dự đoán rằng “Miến Điện, Ấn Độ và Indonesia sẽ bị uy hiếp nếu cộng sản chiến thắng ở Đông Dương” (Pi-tơ A. Pu-lơ, 1987, tr.40) và khẳng định: “viện trợ kinh tế và quân sự của Mĩ cho các lực lượng chống cộng sản ở Đông Dương đã tạo ra cách rẻ nhất để tránh mối đe dọa nghiêm trọng đối với nền an ninh của Mĩ” (Pi-tơ A. Pu-lơ, 1987, tr40).
Pháp và những khó khăn về chính trị, kinh tế
Từ sau năm 1950, với những thất bại liên tiếp, thực dân Pháp ngày càng lún sâu tại chiến trường Việt Nam. Có thể thấy, thực dân Pháp lúc này phải đối mặt với những khó khăn chồng chất, một bên là sự thất bại nặng nề về quân sự tại chiến trường Việt Nam và một bên là khó khăn của nền kinh tế tại chính quốc.
Những khó khăn về chính trị và kinh tế đã góp phần làm cho thực dân Pháp mất dần ý chí xâm lược Việt Nam, “từ chỗ là một nỗ lực phục hồi quyền kiểm soát của Pháp đối với 3 xứ Đông Dương, cuộc chiến đã biến thành một cuộc thập tự chinh chống cộng mà trong đó người Pháp mang vác gánh nặng nhất, vượt quá khả năng của họ” (Lê Phụng Hoàng, 2009, dẫn theo Trần Thị Nhung, 2014, tr.47).
Sự mở rộng và phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa
Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã không ngừng mở rộng và phát triển từ Âu sang Á. Hệ thống này đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh cách mạng trên thế giới. Đồng thời, hệ thống đã tạo thế đối trọng với Mĩ và các nước phương Tây trong cục diện Chiến tranh Lạnh.
Mặt khác, Đông Nam Á, cụ thể là Việt Nam đã trở thành một vị trí chiến lược của hai phe dân chủ và đế quốc. Đặc biệt, từ sau thắng lợi trên mặt trận ngoại giao năm 1950, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa.
Về phía Việt Nam
Từ những năm 1950, sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần chấm dứt thời kì chiến tranh đơn độc của Việt Nam. Đặc biệt, với sự ra đời của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (01/10/1949) đã tạo ra bước ngoặt mới trong tình hình châu Á và thế giới; đồng thời, góp phần giúp cách mạng Việt Nam mở rộng quan hệ với các Đảng Cộng sản trên thế giới.
Henri Navarre nhận định: “sự can thiệp của Trung Quốc – một hiểm họa treo lơ lửng trên đầu Đông Dương từ khi chủ nghĩa cộng sản tiến sát tới biên giới của vùng đất này” (Henri Navarre, 2004, tr.79) và sự can thiệp qua các hình thức khác nhau: “gia tăng viện trợ các thiết bị cho Việt Minh, can thiệp bằng không quân, hỗ trợ cho Việt Minh dưới dạng quân tình nguyện hoặc thậm chí núp dưới bóng quân đội Việt Minh”(Henri Navarre, 2004, tr.79).
Với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của lực lượng quân đội Việt Nam không ngừng lớn mạnh và được khẳng định bằng thắng lợi Biên giới Thu Đông 1950. Sau chiến dịch Biên giới, lực lượng cách mạng Việt Nam đã mở hàng loạt cuộc tiến công nhằm tiêu hao sinh lực địch, phá hoại kế hoạch củng cố lực lượng và bình định đồng bằng của thực dân Pháp, cũng như phát triển chiến tranh du kích và giữ vững thế/quyền chủ động chiến lược của quân đội Việt Nam trên chiến trường như: Chiến dịch Trần Hưng Đạo, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Chiến dịch Quang Trung, Chiến dịch Hòa Bình… đặc biệt là thắng lợi trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954.
Với tình hình bất lợi cho Pháp, Chính phủ Mĩ lo sợ rằng: “Nếu đạo quân viễn chinh (Pháp) rút lui thì Mĩ sẽ phải gánh lấy nhiệm vụ của nó và một cuộc chiến tranh mới sẽ xảy ra chỉ một thời gian ngắn sau cuộc đình chiến ở Triều Tiên” (Jules Roy, 1966, được trích dẫn trong Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, 2010, tr.515). Vì lẽ đó, Mĩ đã thúc giục Pháp tiếp tục cho cuộc chiến tranh tại Đông Dương và hứa sẽ tăng viện trợ cho Pháp.
Theo nhận định của Navarre: “Đối với người Mĩ, Việt Minh là “Chủ nghĩa Cộng sản” và mục đích của cuộc chiến tranh này cũng giống như mục đích của cuộc chiến tranh Triều Tiên: “ngăn chặn” Chủ nghĩa Cộng sản tràn vào vùng Đông Nam Á. Đó là để ngăn chặn một thảm họa mà sẽ là sự mất đi, đối với phương Tây, một phần của thế giới với những quyền lợi chiến lược và kinh tế sống còn, gồm các nước Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Indonesia, Ấn Độ. Do đó, Đông Dương phải là một lá chắn rất cần thiết” (Henri Navarre, 2004, tr.98-99).
Với những điều kiện trên, Mĩ đã liên kết với thực dân Pháp, vừa thúc đẩy Pháp tiếp tục chiến tranh vừa buộc Pháp phải cho Mĩ trực tiếp viện trợ cho chính quyền tay sai hòng chuẩn bị âm mưu thay chân Pháp.
2.2. Sự can thiệp của Mĩ vào cuộc chiến tranh Việt Nam
Tháng 5/1950, Tổng thống Truman chính thức quyết định viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và ủng hộ Chính phủ quốc gia Bảo Đại. Tháng 12/1950, Hiệp định giữa Mĩ, Pháp và Quốc gia Việt Nam chính thức được kí kết, đánh dấu sự dính líu chính thức vào Việt Nam. Tiếp đó, Mĩ cùng Pháp và Chính phủ Quốc gia Việt Nam, Miên, Lào đã kí bản Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương; thông qua đó, Mĩ cam kết sẽ viện trợ quân sự cho các nước trên để phòng thủ Đông Dương.
Mĩ đã tăng viện trợ quân sự cho Pháp, cụ thể: năm 1953 tăng gấp 3 lần so với năm 1952; năm 1954 tăng gấp đôi so với năm 1953; đến năm 1954, viện trợ quân sự của Mĩ lên đến 80% ngân sách chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Mĩ đã cung cấp trang bị cho trên 50 tiểu đoàn, trang bị cho nhiều đơn vị pháo binh, cơ giới, vận tải mới được tổ chức và viện trợ cho Pháp thêm 123 máy bay, 212 tàu chiến (Nhiều tác giả, 2014, tr.19).
Với sự viện trợ từ Mĩ, ngày 08/5/1953, Chính phủ Pháp cử Đại tướng Navarre làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương với sứ mệnh “tìm cho được một lối ra danh dự” (Henri Navarre, 2004, tr.18).
Điện Biên Phủ được tướng Henri Navarre nhận định về địa thế là “bản lề của các trục đường nối liền các vùng biên giới Lào, Thái Lan, Miến Điện và Trung Quốc” và “những cánh đồng ở Điện Biên Phủ là những cánh đồng đông dân cư và giàu có nhất vùng thượng du. Sản lượng gạo ở đây rất cao, đủ đảm bảo lương thực trong nhiều tháng cho từ 20.000 đến 25.000 người. Sân bay có khả năng được nới rộng ra một cách dễ dàng từ hai đến ba lần. Từ đây máy bay hiện đại có thể bay đến gần như tất cả các nơi ở vùng Đông Nam Á” (Henri Navarre, 2004, tr.273).
Với những đánh giá về tầm quan trọng chiến lược, Pháp không ngừng tăng thêm về binh lực, vũ khí và trang thiết bị quân sự sau khi chiếm Điện Biên Phủ ngày 20/11/1953. Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương. Tính đến tháng 3/1954, tại Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn, 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội xe tăng và 1 phi đội máy bay thường trực (14 chiếc). Trong quá trình tiến hành chiến dịch, quân Pháp tăng viện trợ thêm 5 tiểu đoàn, tổng cộng binh lính dù có 17 tiểu đoàn. Tổng số quân tăng lên hơn 16.000 người và 300 máy bay vận tải tiếp tế, có sự chi viện của không quân Mĩ (Bộ Chính trị, 2000, tr.540).
Về phía Mĩ, Chính phủ Mĩ đã cử đến Điện Biên Phủ một ủy ban thanh tra, bao gồm nhiều chuyên gia có đầy kinh nghiệm trong chiến tranh Triều Tiên. Phái đoàn đã tiến hành kiểm tra toàn bộ tập đoàn cứ điểm, ủy ban Mĩ đã khẳng định: “các vị trí của Pháp cùng những liên lạc bằng đường không sẽ không bị phòng không đối phương quấy rối nghiêm trọng” và tuyên bố: “dù thế nào đi nữa, pháo binh và máy bay bắn trả, cùng toàn bộ những nơi thả dù được lựa chọn một cách chính xác, tất cả sẽ cho phép duy trì việc tiếp tế tập đoàn cứ điểm mà không phải sợ bị tổn thất quá nghiêm trọng” (Fall, BernardB,1962, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr.89).
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã được nhiều tướng lãnh Mĩ đến kiểm tra như Trung tướng John O’Daniel – Tư lệnh quân đội Mĩ ở Thái Bình Dương, Thiếu tướng Thomas J.H. Trapnell – Chỉ huy MAAG. Đồng thời, còn có một số vị tướng được ở lại giúp bộ chỉ huy của tập đoàn cứ điểm như Trung tá Richard F. Hen, Trung tá John M. VVohncr và Đại úy Robcrl M. Loyd.
Ngày 20/02/1954, Mĩ viện trợ thêm cho Pháp máy bay các loại và gửi sang Việt Nam 200 lính kĩ thuật thuộc đơn vị phục vụ không quân số 81 phục vụ cho bảo trì và sửa chữa các loại máy bay (Scott, Peter Dale, 1970, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr.90).
Những người đứng đầu Mĩ đã có những nhận định về việc Pháp có thể thương lượng tại Geneve thoát khỏi chiến tranh ở Việt Nam. Trước tình hình đó, Mĩ đã tiến hành viện trợ khẩn cấp thêm cho Pháp gần 100 máy bay ném bom và máy bay chiến đấu, gần 50 máy bay vận tải. Không chỉ cung cấp máy bay, Mĩ còn cung cấp cho Pháp người lái, đồng thời âm mưu thiết lập cầu hàng không giữa Hà Nội và Điện Biên Phủ: Mỗi ngày, gần 100 máy bay vận tải DC-3 đã hạ cánh xuống sân bay, vận chuyển từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Thêm vào đó là 30 máy bay vận tải cỡ lớn C.J 19 mỗi sáng thả dù từ 100 đến 150 tấn hàng tiếp tế khác (U.S. News and World Report, 1954, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr.90).
Theo tình hình chiến sự, Mĩ cho rằng với sự chi viện hiện tại có thể không cứu được Điện Biên Phủ, vì thế đã thiết lập kế hoạch do chính Đô đốc Arthur W. Radford, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mĩ soạn thảo, mang tên “Cuộc hành quân Chim kền kền”.
Theo kế hoạch, có 60 máy bay B29 (loại máy ném bom hiện đại nhất của Mĩ), mỗi chiếc có thể chở 8 tấn bom. Kế hoạch cụ thể: Máy bay cất cánh từ hai căn cứ không quân của Mĩ là Clark Field (Philippines) và Okinawa (Nhật Bản) với 150 máy bay chiến đấu hộ tống (từ các hàng không mẫu hạm của Hạm đội số 7 hoạt động trong Vịnh Bắc Bộ), mỗi đợt ném khoảng 450 tấn bom, xuống các vị trí của bộ đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ. Mặt khác, Radford còn đề nghị sử dụng bom nguyên tử loại nhỏ.
Nixon đồng ý với kế hoạch của Radford và cho rằng: “Nếu để ngăn Cộng sản bành trướng rộng hơn nữa ở Châu Á và Đông Dương, chúng ta phải gửi thanh niên chúng ta sang đó bây giờ” (Eisenhower, Dwight D., 1965, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr.92) và theo Chuẩn tướng James M. Gavin, Tham mưu phó Lục quân Mĩ phụ trách kế hoạch, Mĩ có thể đưa sang Bắc Bộ “8 sư đoàn chiến đấu, 35 tiểu đoàn công binh cùng với pháo binh và yểm trợ hậu cần” (Shịniro, Nagaoka, 1999, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr.92).
Ngày 20/3/1954, Ngoại trưởng Dulles báo cáo tình hình quân sự ở Đông Dương và yêu cầu Mĩ viện trợ bổ sung. Theo lệnh của Chính phủ Pháp, Ê – ly tuyên bố rằng Pháp không còn khả năng tiếp tục chiến tranh và cần sự viện trợ bổ sung. Tình hình chiến sự xấu đi tại Đông Dương và sự đồng ý của Chính phủ Pháp ngồi vào bàn Hội nghị Geneve (18/02/1954) đã thúc đẩy chính quyền Eisenhower quyết định can thiệp vào cuộc chiến ở Đông Dương mạnh hơn.
Trong bầu không khí chuẩn bị cho cuộc chiến tranh, tại nước Mĩ, nhiều nghị sĩ, một số tướng lĩnh và đông đảo nhân dân đều phản đối việc tham chiến của Mĩ bởi kí ức về 14 vạn thanh niên Mĩ chết và bị thương tại cuộc chiến tranh Triều Tiên quá lớn. Đồng thời, trước đó đầu tháng 02/1954, việc Eisenhower gửi 200 lính kĩ thuật hỗ trợ kĩ thuật và không trực tiếp tham chiến cũng đã khiến Eisenhower gặp nhiều rắc rối.
Hầu hết các thượng nghị sĩ cũng dần chống lại việc Mĩ can thiệp quân sự vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương, tiêu biểu như F. Kennedy, Edwin C. Johnson (Đảng Dân chủ); Alexander Wiley (Đảng Cộng hòa) và cùng các thượng nghị sĩ khác: Mike Mansfield, Richard B. Russell, John C. Stennis… (Phan Văn Hoàng, 2002, tr.95).
Trước những phản đối về việc tham chiến, Ngoại trưởng Dulles càng thêm lo ngại về mối đe dọa lâu dài đối với Đông Nam Á nhiều hơn mối đe dọa về Điện Biên Phủ. Để cứu vãn tình hình, Ngoại trưởng Dulles đã quyết định chọn con đường “hành động phối hợp”, tức là thuyết phục Pháp tiếp tục chiến tranh với một liên minh chống cộng do Mĩ đứng đầu, thực chất, Ngoại trưởng Dulles muốn quốc tế hóa cuộc chiến tranh Đông Dương.
Ngày 29/3/1954, Mĩ đã công khai đề xuất hành động tập thể của một lực lượng quân đội liên hợp với tuyên bố của Ngoại trưởng Mĩ Dulles. Mĩ muốn một liên minh cùng xuất quân bảo vệ Đông Dương khỏi tay “Cộng sản” bao gồm: Anh, Pháp, Mĩ, Úc, Niu Di – Lân, Thái Lan, Philippin và chính phủ bù nhìn của ba nước Đông Dương (Campuchia, Lào và Việt Nam) (Pi-tơ A. Pu-lơ, 1987, tr.48). Ngoại trưởng Mĩ Dulles tuyên bố: “Trong điều kiện hiện tại, sự áp đặt chi phối Đông Nam Á của hệ thống chính trị Cộng sản Nga và đồng minh là Cộng sản Trung Quốc, dù dưới bất kì hình thức nào, cũng là mối đe dọa nghiêm trọng đối với cộng đồng các quốc gia tự do. Mĩ không thể khoanh tay đứng nhìn và sẽ huy động hành động tập thể” (Bình Minh, 2019).
Với những kết quả của trận Điện Biên Phủ và hoài nghi về kết quả của cuộc oanh tạc bằng không quân, chính quyền Mĩ cũng lo ngại và tìm cách tranh thủ sự ủng hộ của quốc hội Mĩ trong sự can thiệp bằng quân sự vào chiến trường Đông Dương.
Mặt khác, Eisenhower và Dulles cũng lo ngại việc Pháp sẽ thất bại tại Điện Biên Phủ trước khi kế hoạch “Hành động phối hợp” được thực hiện và bài học đắt giá trong chiến tranh Triều Tiên. Với mục đích thăm dò ý kiến các nhà lãnh đạo quốc hội, ngày 03/4/1954, được sự ủy quyền của Eisenhower, Dulles và Radford gặp 8 nghị sĩ thuộc Thượng viện và Hạ viện để thuyết phục, trong đó có 3 nghị sĩ của Đảng Cộng hòa và 5 nghị sĩ của Đảng Dân chủ. Sau khi trình bày những nét chính của kế hoạch ném bom ở Điện Biên Phủ và trải qua hai giờ đồng hồ thảo luận, các nghị sĩ đặt ra điều kiện tiên quyết là chính quyền Eisenhower phải tranh thủ được các nước đồng minh, đặc biệt là nước Anh.
Nhưng trong lúc này, Điện Biên Phủ đã không còn khả năng giữ nữa và phải cần có sự tham chiến của Mĩ bằng không quân (theo bức điện của tướng Navarre gửi cho Chính phủ Pháp).
Trước tình hình đó, chính quyền Mĩ ráo riết thực hiện kế hoạch “Hành động phối hợp”. Ngoại trưởng Dulles sang London và Paris để thương thuyết với các nhà lãnh đạo Anh và Pháp. Ngày 04/04/1954, Eisenhower liên tục hối thúc Anh, cụ thể trong lá thư Eisenhower gửi thủ tướng Anh Winston Churchill, ghi rằng: “Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, hậu quả cuối cùng sẽ tai hại cho thế chiến lược toàn cầu của các Ngài và của chính tôi với hậu quả là sự đổi thay trong cán cân lực lượng trên toàn Châu Á và Thái Bình Dương và tôi biết đó là điều mà cả Ngài lẫn tôi đều không chấp nhận” (Eisenhower, Dwight D., 1965, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr.96-97) và kêu gọi Anh thành lập một liên minh mới trong việc ngăn chặn “Cộng sản”, nhấn mạnh: “Điều quan trọng là liên minh đó phải mạnh và sẵn sàng tham gia chiến đấu khi cần” (Eisenhower, Dwight D., 1965, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr.97).
Ngày 07/04/1954, trong cuộc họp, Tổng thống Eisenhower đã nhấn mạnh: “Đông Dương là một nguồn quan trọng cung cấp thiếc, vonfram, cao su và việc Trung Quốc rơi vào tay chế độ độc tài cộng sản, không thể chịu được tiếp những thiệt hại to lớn hơn”, Eisenhower kết luận: “Hậu quả nhãn tiền mà sự mất mát này có thể đem lại đối với thế giới tự do là không thể tính nổi” (Washington, D.C., 1955, được trích dẫn trong George C. Herring, 1985, tr.62).
Ngày 14/04/1954, Tướng Partridge, Tư lệnh không quân Mĩ ở Đông Nam Á được Eisenhower cử sang Việt Nam. Trong buổi gặp giữa Tướng Navarre và Tướng Cogny, Partridge cam kết: “Tôi là người hỗ trợ chắc chắn cho các ông. Các ông hãy chỉ cho tôi các mục tiêu. Tôi có sẵn 90 máy bay ném bom B.29” (Phan Văn Hoàng, 2002, tr.96).
Tiếp đó, để chuẩn bị cho kế hoạch, ngày 19/04/1954, Eisenhower hạ lệnh cho hai hàng không mẫu hạm Essex và Boxer trọng tải 31.000 tấn, trang bị vũ khí nguyên tử, thuộc Hạm đội số 7 của Hải quân Mĩ tiến vào vịnh Bắc Bộ. Tiếp đến, một số tướng lĩnh của Pháp được Mĩ mời sang căn cứ Clark Field (ở Philippines) để phối hợp hành động.
Đến cuối cùng, những cố gắng của Mĩ cũng không thể can thiệp vào Đông Dương, các quốc gia đồng minh đều phản đối can dự quân sự tại Điện Biên Phủ (Ngoại trừ Thái Lan và Philippines) và “Chính phủ Anh vẫn kiên quyết từ chối không tham gia vào hành động có thể phá hủy các cơ hội lập lại hòa bình ở Geneve” (Pi-tơ A. Pu-lơ, 1987, tr.51).
Ngày 21/4/1954, trận Điện Biên Phủ đã đến hồi kết thúc, Tướng Navarre yêu cầu tăng viện trợ cả về người và phương tiện bằng bất cứ giá nào. Các nhà lãnh đạo Pháp đã yêu cầu Dulles xem xét lại và thực thi kế hoạch của Radford, dùng không quân oanh tạc các căn cứ tiếp tế hậu cần của Việt Minh ở Tuần Giáo và Dulles đã đi đến kết luận: “không còn hy vọng để cứu vãn Điện Biên Phủ” (Pi-tơ A. Pu-lơ, 1987, tr.50).
Ngày 23/04/1954, Georges Bidault, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp đã báo cáo tình hình nguy kịch của Điện Biên Phủ với ngoại trưởng ba nước Mĩ, Anh và Pháp tại cuộc họp ở Paris. Ngày 24/04/1954, Dulles cùng với Đô đốc Radford thuyết phục Eden một lần nữa: “Chỉ cần nước Anh tham gia với một chiếc máy bay duy nhất, chiếc máy bay tượng trưng cho tình đoàn kết” (Navarre, Henri, 1957, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr. 97). Mặt khác, Mĩ lại gợi ý cho Pháp tác động đến Anh, Thứ trưởng Ngoại giao Walter Smith nhấn mạnh: “Kết quả tùy thuộc ở việc London có chấp nhận hay không” (Navarre, 1957, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr.98).
Theo gợi ý của Mĩ, René Massigli thay mặt thủ tướng Laniel đến gặp Churchill và Eclen: “Nếu Anh không lên tiếng phản đối, máy bay của Hải quân Mĩ sẽ ném bom nguyên tử xuống (Điện Biên Phủ) vào ngày 28/04” (Nixon, Richard M., 1986, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr.98).
Tiếp đó, ngày 25/04/1954, Radford tiếp tục bay sang London để thuyết phục Churchill và sau một phiên họp khẩn cấp của nội các Anh, Churchill tuyên bố: “Điều mà người ta yêu cầu chúng ta làm là giúp vào việc đánh lừa Quốc hội (Mĩ) để phê chuẩn một cuộc hành quân; cuộc hành quân ấy sẽ không có hiệu quả, nhưng có thể dẫn thế giới đến bên bờ một cuộc chiến tranh lớn” (Nghiên cứu lịch sử, 1984, được trích dẫn trong Phan Văn Hoàng, 2002, tr.98). Lập trường của Churchill được toàn bộ nội các Anh tán thành và quyết định không tham gia bất kỳ kế hoạch can thiệp vũ trang nào vào Việt Nam trước khi Hội nghị Geneve có kết quả.
Không đạt được kết quả trong cuộc thương thuyết với nước Anh, Mĩ tiến hành lôi kéo Australia và New Zealand vào cuộc chiến tại Việt Nam nhưng hai nước nhanh chóng khước từ (hai nước đã kí Hiệp ước an ninh ANZUS với Mĩ, 01/09/1951 tại San Francisco, Mĩ).
Ngày 26/04/1954, Eisenhower thông báo cho các lãnh đạo Quốc hội rằng: “sai lầm chiến lược nếu một mình tham gia cuộc chiến như một đối tác của Pháp” và thể hiện rõ rằng Mĩ sẽ can thiệp chỉ với tư cách là một thành phần trong một “tổ chức các quốc gia có liên quan”. Ngày 29/04/1954, Hội đồng An ninh Quốc gia Mĩ đã chính thức quyết định đình chỉ hoạt động quân sự tại Đông Dương cho tới khi chúng ta thấy rõ diễn biến của Hội nghị Geneve (George C. Herring, 1985, tr.66).
Quyết định này đã đánh dấu chấm hết cho sự can thiệp của Mĩ và góp phần đưa đến sự thất bại của Pháp tại trận Điện Biên Phủ.
3. Thay lời kết
Tóm lại, kết quả nghiên cứu về sự can thiệp của Mĩ trong trận Điện Biên Phủ năm 1954 cho thấy Mĩ đã từng bước can thiệp vào chiến tranh trong lúc Pháp đã chuẩn bị thoát khỏi cuộc chiến bằng con đường thương lượng. Nắm lấy cơ hội đó, Mĩ tiến hành can thiệp vào cuộc chiến thông qua viện trợ, phương tiện chiến tranh và cố vấn quân sự nhằm xoay chuyển quyền quyết định cho cuộc chiến. Đến cuối cùng, Mĩ đã không thể cứu vãn nỗi tình hình chiến tranh tại Đông Dương, cụ thể là trận Điện Biên Phủ năm 1954, cũng như đánh dấu sự thất bại trong việc cố thiết lập một liên minh quân sự nhằm quốc tế hóa cuộc chiến ở Đông Dương.



