Giới thiệu:
Hệ phái Khất sĩ là một trong chín tổ chức thành viên thống nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đây là hệ phái do Thiền sư Minh Đăng Quang sáng lập với tâm nguyện: “Nối truyền Thích Ca chánh pháp” trên tinh thần dung hợp hai hệ phái lớn Nam tông và Bắc tông Phật giáo. Hệ phái mang đậm tính dân tộc với hình thức kiến trúc và thờ phượng. Đạo tràng tịnh xá của Hệ phái có mô hình bát giác, bên trong Chánh điện chỉ tôn thờ bảo tượng duy nhất là đức Phật Thích ca trên bảo tháp tam cấp.
Lịch sử hình thành đạo phái có thể được xác định từ năm 1946 khi Tổ sư Minh Đăng Quang chính thức thành lập Đạo Phật Khất sĩ với tôn chỉ: “Nối truyền Thích Ca chánh pháp – Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam” tại Mỹ Tho. Từ đó đến nay, Hệ phái là một trong các tổ chức thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Về mặt tín ngưỡng, thờ phượng, Hệ phái có sự gắn kết mật thiết với các yếu tố văn hóa bản địa tại Nam bộ và sự ra đời cũng trên nền tảng của những điều kiện văn hóa, xã hội, thời cuộc, đời sống tín ngưỡng, tâm lý của nơi đây.
1. Nam Bộ – Vùng đất có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú
Nam bộ Việt Nam được biết đến trong lịch sử với sự hội tụ, cộng cư của nhiều cộng đồng cư dân khác nhau trong nhiều lớp nền văn hóa đa dạng. Trước khi người Việt kiến tạo nên diện mạo mới của Nam bộ thì nơi đây đã có các cộng đồng cư dân như người Khmer và các dân tộc ít người sinh sống với các thể chế xã hội và chính trị đa dạng.
Cuộc Nam tiến của người Việt đã hòa cùng vào dòng lịch các cộng đồng cư dân Nam bộ với các hoạt động khai hoang, mở đất, lập làng, buôn bán, xây dựng thiết chế xã hội ngày càng mạnh mẽ. Dần dần, từ thế kỷ XVII, người Việt đã trở thành nhóm cư dân làm chủ “vùng đất mới” mà dấu ấn của hai trạm thu thuế tại Sài Gòn và Gia Định được thành lập bởi Chúa Nguyễn vào năm 1623 là sự khẳng định quan trọng. Nhiều xóm làng và điểm cư trú của người Việt cũng hình thành, ổn định và rải khắp Nam bộ trong thời gian này.
Nam Bộ là vùng đất tụ cư của nhiều thành phần dân tộc như Việt, Hoa, Chăm, Khmer,… Trong đó, người Việt là chủ yếu. Những lớp cư dân người Việt đầu tiên là những người xuất thân từ những tù nhân bị lưu đày, những kẻ phạm tội, những phần tử bị truy nã và một số người điền chủ vùng Ngũ Quảng vào đây chiêu mộ dân nghèo khai hoang, lập làng. Họ rời những luật lệ ràng buộc của tổ chức làng xã, họ rũ bớt những ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Chính những đặc điểm của lịch sử và tự nhiên của vùng đất này, đã hình thành nên một tính cách đặc biệt của người dân Nam Bộ là phóng khoáng, cởi mở trong tâm lý và giao tiếp ứng xử.
Trên bước đường tha phương cầu thực ở vùng đất mới, việc giáo dục Nho học đã không còn được chú trọng, thay vào đó, họ phải lo tìm kế mưu sinh, phải đối mặt với những khó khăn, nguy hiểm. Mặt khác, do vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, không học vẫn sống được, dần dần hình thành nên tâm thức của người dân Nam Bộ. Họ trọng nghĩa, khinh tài và chuộng các hoạt động thực tiễn hơn là lý luận cao siêu, đồng thời, hướng tới đời sống tâm linh nhiều hơn khoa học.
Trong đời sống tâm linh, Nam Bộ là nơi có nhiều tôn giáo/giáo phái. Bên cạnh các tôn giáo chính thức còn có nhiều các chi phái tôn giáo, tín ngưỡng mang tính dân gian đậm nét. Điều này phong phú tới mức mà Giáo sư Trần Văn Giàu đã nhận xét: “đồng bằng sông Cửu Long là mảnh đất hết sức màu mỡ và cũng là mảnh đất sản sinh nhiều đạo khác lạ lùng, mê tín dị đoan hết sức phổ biến” (Nhiều tác giả, 2015).
Tại Nam bộ, ngoài các tôn giáo lớn du nhập như Phật Giáo, Công giáo, Islam giáo… còn có các tôn giáo bản địa mang bản sắc riêng của vùng Nam Bộ như Bửu Sơn Kỳ Hương (1849), Tứ Ân Hiếu Nghĩa (1867), Phật Giáo Hòa Hảo (1939), Đạo Cao Đài (1926),… Ngoài ra, còn có các tôn giáo như Đạo Dừa, Đạo Lành,… hay các đạo phái có tính chất dân gian khác như Bạch Liên giáo, Thiên địa hội xuất hiện và tồn tại từ nhiều nguồn gốc khác nhau.
Các tôn giáo, nhất là với các tôn giáo bản địa ở Nam Bộ không chỉ có sự tương đồng mà còn có sự tiếp biến qua lại. Như Bửu Sơn Kỳ Hương có sự dung hòa của các tôn giáo Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo. Tứ Ân Hiếu Nghĩa kế thừa các đức tin, nghi lễ của Bửu Sơn Kỳ Hương; tu học theo nguyên lý Phật giáo; xử sự theo Nho giáo và rèn luyện tinh, khí, thần theo Đạo giáo. Phật giáo Hòa Hảo tiếp thu giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương và thế giới quan Phật giáo như các quan niệm về Hạ nguyên, Mạt pháp, Hội Long Hoa.
Trên cơ sở đó, ta có thể nói Nam Bộ là vùng đất đa tín ngưỡng và tôn giáo. Hơn nữa, nơi đây còn là cái nôi của nhiều tôn giáo, tín ngưỡng ra đời và hoạt động đa dạng, phong phú. Trong đó, ở thế kỷ XX, Hệ phái Khất sĩ cũng xuất hiện trong những điều kiện văn hóa xã hội, tôn giáo tín ngưỡng của Nam bộ và trở thành một phần của đời sống tôn giáo Nam Bộ ngày nay.
2. Phong trào Chấn hưng Phật giáo – Nền tảng ra đời Hệ phái Khất sĩ
Từ khi Pháp xâm lược và cai trị Việt Nam, các phong trào đấu tranh yêu nước và giải phóng đã nổi lên liên tục. Trên lĩnh vực văn hóa, tình trạng người dân tìm đến các tôn giáo, tín ngưỡng để cầu đạo, tìm chỗ dựa về tinh thần diễn ra khắp nơi. Tại Nam bộ, quá trình này cũng diễn ra vô cùng sinh động và làm cơ sở cho sự xuất hiện nhiều tôn giáo địa phương trong giai đoạn này. Nhiều tôn giáo địa phương đã giương cao mục tiêu kháng cự với văn hóa và chế độ cai trị của người Pháp ở Việt Nam. Trong khi đó, các tổ chức, phong trào yêu nước chống Pháp cũng tìm cách gắn kết tinh thần đấu tranh giải phóng với tinh thần của các tôn giáo tiến bộ tại Nam bộ lúc bấy giờ. Những lãnh tụ của phong trào yêu nước thời kỳ đầu như Nguyễn Trung Trực, Ngô Lợi, Trần Văn Thành đã dựa vào (hay lập ra) các tôn giáo như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Minh Sư, đạo Lành, đạo Tưởng để tập hợp quần chúng chống Pháp. Giai đoạn say, nhiều Tăng Ni đã dấn thân vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc như lấy nơi thờ tự làm căn cứ hoặc che giấu, nuôi dưỡng người yêu nước (như chùa Long Thạnh, Giác Lâm, Pháp Hoa, Từ Vân, Phổ Quang…) hay tham gia vào các tổ chức tranh đấu.
Trong khi đó, Phật giáo vốn từ lâu đã là nơi nương tựa trong đời sống tâm linh của người Nam Bộ với tinh thần bình đẳng, từ bi, hỷ xả và giải thoát. Nhưng từ cuối thế kỷ XIX, chính sách cai trị của thực dân Pháp đã đẩy xã hội và đời sống người dân vào thế khốn cùng, trong nhất thời chưa thể tìm được sự giải thích và tìm ra lối thoát. Từ đó, Tăng chúng Phật giáo có phần rời rạc, dẫn đến sự suy dốc của Phật giáo. Bên cạnh đó, Phật giáo cũng phải chịu những ngăn trở, cấm đoán bởi chính quyền thuộc địa như các sư phải nộp thuế thân, phải đi lính và không được tự do truyền đạo (Nhiều tác giả, 2016).
Trước bối cảnh đó, làn sóng chấn hưng Phật giáo xuất hiện và ngày càng được lan rộng, tác động lớn đến đời sống văn hóa – xã hội nói chung và đời sống tôn giáo Việt Nam nói riêng. Phong trào chấn hưng Phật giáo Đại thừa do các thiền sư như Khánh Hòa, Thiện Chiếu lãnh đạo có ảnh hưởng rất lớn. Tinh thần tôn giáo của họ hàm chứa tinh thần yêu nước và có thể nhận định như quan điểm của Thích Nhật Từ: “cởi áo cà sa, khoác chiến bào” dấn thân vào cuộc chiến đấu với thực dân Pháp như sư Thiện Chiếu, Ni sư Huỳnh Liên, tổ sư Nguyễn Văn An,… (Thích Nhật Từ, 2020). Từ Bắc vào Nam, nhiều tu viện, học hội được thành lập, tạo thành phong trào cải cách, xây dựng và phát triển Phật giáo rộng khắp cả nước. Đồng thời, thực hiện việc xuất bản nhiều sách, tạp chí và kinh bằng chữ quốc ngữ.
Có thể nói, trên bối cảnh lịch sử đó, những nguồn gốc về xã hội, nhận thức, tôn giáo, tâm lý đối với sự ra đời, lan tỏa, phát triển của Hệ phái Khất Sĩ ở Nam Bộ đã xuất hiện.

3. Hành trình từ sơ khai đến phát triển Hệ phái Khất sĩ
Tổ sư Minh Đăng Quang thành đạo và truyền giáo (1944 – 1954)
Thiền sư Minh Đăng Quang sinh ra trong một gia đình nề nếp, hiền lương, nhân nghĩa và có truyền thống Nho giáo tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (1923). Từ nhỏ, Minh Đăng Quang đã quan tâm nhiều về lịch sử, con người, vùng đất Nam Bộ đặc biệt là sự say mê kinh sách Phật học và có xu hướng thoát ly gia đình, tầm sư học đạo.
Sau khi học hết tiểu học, Ngài quyết tâm theo đường học đạo. Nhưng nhiều lần xin xuất gia không thành. Năm 15 tuổi, Ngài trốn gia đình sang Nam Vang học đạo. Sau thấy phương pháp của vị thầy không đưa đến giải thoát nên Ngài quyết định trở về quê nhà vào năm 1941.
Hai năm sau, Minh Đăng Quang sang vùng Thất Sơn ẩn tu và chú tâm nghiên cứu giáo lý Phật giáo. Sau đó, tại Hà Tiên, Ngài ngồi tham thiền tại Mũi Nai (Mỹ Đức, Hà Tiên, Kiên Giang) bảy ngày bảy đêm. Chính nơi đây, Minh Đăng Quang đã tỏ sáng lý pháp “Thuyền bát nhã” ngược dòng đời cứu độ chúng sanh” (Nhiều tác giả, 2016).
Ngày 15/7/1944, Ngài phát nguyện thọ giới Sa di tại chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Sau 2 năm tu tập, Ngài thọ 250 giới Tỳ kheo và tứ y pháp, với pháp danh Minh Đăng Quang. Kể từ đó, hình ảnh của vị sư “tam y nhất bát”, chậm rãi đi từng bước khắp các nẻo đường, không nhà cửa, không tài sản với mục đích: “Hóa độ chúng sinh” với các bài thuyết pháp trong lời lẽ giản dị, dễ hiểu phù hợp với đặc trưng của Nam Bộ đã lôi cuốn đông đảo dân chúng Nam bộ.
Năm 1947, Tổ sư Đăng Minh Quang bắt đầu thu nhận tăng ni và thành lập Đoàn Du tăng Khất sĩ. Từ năm 1948 đến năm 1953, Ngài tổ chức tăng ni đi hành đạo rất nhiều nơi khắp Nam Bộ, kêu gọi tăng đồ với tinh tấn hành trì giới luật và nên tập sống chung tu học, khuyến khích mọi người cùng xây dựng cõi đời an lạc. Tác giả Huỳnh Minh viết: “Phật tử khắp miền Nam nước Việt không ai mà không tán thán cái đức độ, cái giới hạnh của một tu sĩ thanh xuân đứng trên thí trường chỉnh đốn Tăng-già” (Huỳnh Minh, 1967).
Trong thời gian hành đạo của mình, Tổ sư Minh Đăng Quang đã độ được 100 tăng ni, tịnh xá dựng lập trên 20 ngôi tịnh xá như Tịnh xá Mộc Chơn (Mỹ Tho), Tịnh xá Pháp Vân (Vĩnh Long); Tịnh xá Trúc Viên (Vĩnh Long), Tịnh xá Ngọc Thuận (Vĩnh Long), Tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long), Tịnh xá Ngọc Trung (Cần Thơ), Tịnh xá Ngọc Minh (Cần Thơ), Tịnh xá Ngọc Quang (Đồng Tháp),… Đệ tử của Tổ sư có những tăng ni tiêu biểu như Từ Huệ, Giác Tánh, Giác Chánh, Giác Như, Giác An, Giác Lý, Giác Nhiên (tăng); Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên, Kim Liên, Ngân Liên, Chơn Liên, Quang Liên, Tạng Liên, Trí Liên, Đức Liên, Thiện Liên (ni).
Đoàn Du tăng Khất sĩ được quy định về tổ chức như sau: Quy định số người để thành lập tiểu giáo hội là 20 người, trung giáo hội là 100 người và đại giáo hội là 500 người (Nhiều tác giả, 2016). Theo thầy Thích Minh Sơn: về sau, không còn sử dụng khái niệm Giáo hội Phật giáo Tăng già Khất sĩ mà sử dụng Giáo đoàn trong Hệ phái Khất sĩ trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, và không quy định số lượng trong một giáo đoàn (Lê Thành Trung, 2020).
Thời kỳ phát triển Du Đoàn Khất sĩ (1955 – 1975)
Sau 1954, với tâm nguyện của Tổ sư Minh Đăng Quang, Nhị Tổ Giác Chánh đã hướng dẫn Du đoàn tiếp tục hành đạo và ngày càng mở rộng đến khu vực Trung bộ, Tây Nguyên như Phan Thiết, Phan Rí, Phan Rang, Nha Trang (1956), Đà Lạt, Khánh Hòa, Tuy Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên (1957), Quy Nhơn, Thừa Thiên và Quảng Trị (1961).
Theo các nguồn tư liệu từ sách, bài viết hội thảo và chia sẻ của thầy Thích Minh Sơn (Lê Thành Trung, 2020), thời kỳ này, Hệ phái Khất sĩ đã phát triển thành 5 giáo đoàn Tăng và 1 giáo đoàn Ni và Ni giới thuộc Giáo đoàn Tăng. Cụ thể:
- Giáo đoàn Tăng:
Giáo Đoàn I: Trưởng lão Nhị tổ Giác Chánh (1912 – 2004) làm Trưởng đoàn, Tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long) làm Tổ Đình. Tính từ năm 1954 – 1975, Giáo Đoàn có khoảng 50 vị Tăng, xây dựng 7 tịnh xá, 3 tịnh thất. Thực hiện hành đạo suốt các tỉnh miền Trung (1956 – 1957); sau đó về các làng quê, vùng sâu, vùng xa ở một số tỉnh miền Tây.
Chư Ni trực thuộc Tăng Giáo đoàn I, bao gồm hai hội chúng: Hội chúng Ni trưởng Trung Liên, Hạnh Liên, Liên Liên và Hội Chúng Ni trưởng Sáng Liên.
Giáo Đoàn II: Trưởng lão Giác Tánh và Hòa Thượng Giác Tịnh (1928 – 2008) là Trưởng Đoàn, Tịnh xá Ngọc Trang (Nha Trang) là Tổ Đình; hành đạo ở vùng duyên hải miền Trung từ Bình Thuận ra đến Quảng Trị. Đến năm 1975, Giáo đoàn có 65 vị (trong đó có 30 học Tăng), xây dựng được 15 tịnh xá. (Giáo đoàn II, không có Ni giới thuộc giáo đoàn II).
Giáo Đoàn III: Trưởng lão Giác An (1956 – 1957) làm Trưởng Đoàn. Giáo đoàn lấy Tịnh xá Ngọc Tòng (Nha Trang) làm Tổ Đình. Giáo đoàn III hành đạo tại các tỉnh duyên hải miền Trung như Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Định, đồng thời cũng lên tận các tỉnh Tây Nguyên như: Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum… Đến năm 1975, Giáo đoàn có 30 vị Tăng, xây dựng được 24 tịnh xá, 2 tịnh thất.
Chư Ni trực thuộc Giáo Đoàn III: do Trưởng lão Giác An lãnh đạo, lấy Tổ đình Nam Trung và Tịnh xá Ngọc Tòng (Nha Trang) làm Tổ Đình.
Giáo Đoàn IV: Hòa Thượng Giác Nhiên, Pháp viện Minh Đăng Quang (thành phố Hồ Chí Minh) là Tổ Đình. Địa bàn hành đạo của Giáo đoàn ở các miền Đông Nam Bộ như: Biên Hòa, Long Khánh (Đồng Nai), Thủ Dầu Một (Bình Dương), Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Sài Gòn – Gia Định và các tỉnh miền Tây Nam Bộ như Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Châu Đốc (An Giang), Kiên Giang. Tính đến năm 1974, Giáo đoàn có 171 Tăng, xây dựng được 35 tịnh xá.
Chư Ni trực thuộc Giáo đoàn IV: có hai Phân đoàn do Ni trưởng lãnh đạo: Ni trưởng Ngân Liên và Ni trưởng Trí Liên. Phân đoàn Ni trưởng Ngân Liên, lấy Tịnh xá Ngọc Tiên (Hà Tiên) làm Tổ Đình. Phân đoàn Ni trưởng Trí Liên, lấy Tịnh xá Ngọc Hiệp (Châu Thành- Tiền Giang) là Tổ Đình; tính đến năm 1975, Giáo đoàn xây dựng được 7 tịnh xá, nhận của Tăng Giáo đào 4, 3 tịnh xá.
Giáo Đoàn V: Trưởng lão Giác Lý, Tịnh xá Trung Tâm (quận 6, thành phố Hồ Chí Minh) là Tổ Đình. Giáo đoàn V hành đạo trên nhiều địa bàn. Ở các tỉnh duyên hải miền Trung như: Quảng Nam, Khánh Hòa, Phan Rang – Tháp Chàm (Ninh Thuận), các tỉnh miền Đông Nam Bộ như: Bình Long (Bình Phước), Bà Rịa – Vũng Tàu, Sài Gòn – Gia Định, Chợ Lớn (thành phố Hồ Chí Minh), và các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Bến Tre, Vĩnh Long và Gò Công (Tiền Giang),… Từ năm 1954 – 1975, Giáo đoàn có khoảng 70 vị, xây dựng 26 tịnh xá.
- Giáo đoàn Ni: ngày 11/01/1958, Ni trưởng Huỳnh Liên thành lập Ni Giới Khất Sĩ, Tịnh xá Ngọc Phương (quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh) là Tổ Đình.
Mỗi giáo đoàn có một vị trưởng lão đứng đầu, tổ chức thành hai phần là Hành xứ và Trụ xứ. Đoàn hành xứ thực hiện hạnh nguyện du phương hóa đạo. Đoàn trụ xứ thì trụ trì tại các tịnh xá để tu tập và điều hành Phật sự của giáo đoàn. Với sự phát triển mạnh mẽ của Hệ phái, vào ngày 22/4/1966, sau một thời gian vận động thành lập Giáo hội Tăng – già Khất sĩ Việt Nam của ba vị Thượng tọa Giác Nhiên, Giác Tường, Giác Nhu (từ năm 1964), Bộ Nội vụ Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận cho phép thành lập Giáo hội với bản Điều lệ 32 điều, theo Nghị định số 405/BNV/KS cấp tại Sài Gòn.
Thời kỳ hợp thức hóa và hợp nhất Giáo hội sau năm 1976
Sau năm 1975, Hệ phái Khất sĩ tham gia vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới Thành phố Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn này, tăng ni Khất sĩ dừng du hóa, chuyển sang an tịnh tại các tịnh xá, tiếp tục tu tập theo giáo huấn của Tổ sư Minh Đăng Quang: “cái sống là phải học chung và cái linh là phải tu chung”. Năm 1980, Giáo hội tăng già Khất Sĩ Việt Nam và Giáo hội ni giới Khất Sĩ Việt Nam cùng tham gia Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam.
Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập (1981), Hệ phái Phật giáo Khất Sĩ Việt Nam trở thành một trong chín thành viên sáng lập Giáo hội với danh xưng Hệ phái Khất sĩ. Từ đó, Hệ phái có điều kiện phát triển mạnh về tổ chức, hoạt động nghi lễ và các hoạt động văn hóa – từ thiện. Năm 1982, Hệ phái kết nạp thêm Giáo đoàn VI (do cố Hòa thượng Giác Huệ thành lập và hành đạo từ trước). Bên cạnh tu tập, tăng ni Khất sĩ trong các giáo đoàn đã cùng tham gia vào các hoạt động chung của đất nước như xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp, tham gia trồng lúa (ở nông trường Đồng Tháp), tham gia phong trào trồng khoai sắn tự túc, tham gia sản xuất thủ công, trồng và chế biến thuốc Nam,.. Cụ thể như tại Tịnh xá Ngọc Phương của Ni trưởng Huỳnh Liên, cơ sở chế biến tương được thành lập và phân phối cho các vùng xung quanh; các Ni sư tại Tịnh xá Ngọc Luật (Mỹ Tho) lập tổ chế biến tương chao, gia công đan len; Tịnh xá Ngọc Thuận (Vĩnh Long) có tổ gia công mây tre lá. Trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, tăng ni Khất sĩ tham gia các phong trào như đi phục vụ biên giới Tây Nam 7 ngày của Đại đức Minh Tòng và Đại đức Minh Huệ (Tịnh xá Ngọc Tâm, tháng 8/1978); phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1978 – 1979”… Đồng thời, nhiều ni sư ở khắp nơi tình nguyện trích tiền gửi vào quỹ nuôi quân. Tiêu biểu như Ni trưởng và ni giới Khất sĩ ở Tịnh xá Ngọc Phương đã ủng hộ 1.800 đồng và Ni sư Diệu Liên cùng ni chúng Tịnh xá Ngọc Hòa trích tiền hoa lợi thu hoạch trong vụ hoa màu gửi ủng hộ biên giới.
Trong giai đoạn hiện đại, tháng 12/2008, Hệ phái Khất sĩ lần đầu tiên thành lập “Đạo tràng Như Lai thanh tịnh thiền” tại miền Bắc. Hệ phái Khất sĩ luôn duy trì tôn chỉ của Tổ sư “Nối truyền Thích ca Chánh Pháp”, lấy Giới hạnh làm đầu; thường xuyên tổ chức các khóa tu Truyền thống Khất sĩ, Giới Định Tuệ, Tâm Tĩnh Lặng,.. trong tinh thần tu học và truyền pháp.
4.Một số đặc điểm của Hệ phái Khất sĩ
Về giáo lý
Chơn Lý được xem là bộ sách giáo lý tinh hoa của Hệ phái Khất sĩ được các đệ tử kết tập lại toàn bộ và ấn tống năm 1961. Ấn phẩm là những bài thuyết pháp của Tổ sư Minh Đăng Quang trong 10 năm (1944 – 1954), bao gồm 69 đề tài. Giáo lý là sự chắt lọc những tinh hoa của tư tưởng triết lý phật giáo bao gồm Kinh – Luật – Luận, cũng như là những phương pháp tu học như Thiền định chơn Tâm trên nền tảng Tứ diệu đế, Trịnh bình khất thực, Thập nhị nhân duyên, diễn giải theo kiểu Tam đoạn luận với theo ngôn ngữ giản dị, mộc mạc phù hợp cho người Nam Bộ.
Tinh thần “Việt Nam đạo Phật không phân thừa” là đặc điểm nổi bật của Hệ phái Khất sĩ với tôn chỉ “Nên học sống chung tu học”. Ngay từ khi lập giáo, Minh Đăng Quang đã kêu gọi tăng ni đoàn kết tu học theo đúng chánh pháp. Trong giáo lý Khất sĩ, Giới – Định – Tuệ được xem là nền tảng trong việc tu học. Tổ sư luôn giáo huấn các đệ tử tu tập thiền định và khuôn khổ của giới luật, để cầu giải thoát.
Bên cạnh đó, nét đặc trưng Phật giáo Khất sĩ là còn mang tư tưởng giáo lý trung dung Bắc tông và Nam tông. Nghi thức tụng niệm thuần Việt, những bài kinh, kệ tụng với thể thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn… thuộc loại thơ kệ dễ học, dễ hiểu và dễ hành trình.
Về kiến trúc và hình ảnh biểu tượng
Mô hình kiến trúc xây dựng của tịnh xá được xem là một nét đặc sắc của Hệ phái Khất sĩ trong phong cách chung của kiến trúc Phật giáo. Hệ phái chủ trương xây dựng cơ sở tu hành giản dị. Giai đoạn đầu với vật liệu tự nhiên, giản dị và sáng tạo ra những đặc điểm kiến trúc riêng.
Trong nội điện tịnh xá, chánh điện hình bát giác, tượng trưng cho đóa hoa sen tám cánh và Bát chánh đạo; Cổ lầu tứ giác tượng trưng cho Tứ diệu đế; Chính giữa có tháp thờ 3 tầng, tượng trưng cho tam bảo hay Giới, Định, Tuệ; bốn trụ chính giữa nâng đỡ mái tứ giác đại diện là bốn chúng. Tầng trên cùng là tượng Phật Thích Ca, phía trên đầu có một tháp 13 tầng đại diện cho 13 cấp bậc tiến hóa của chúng sanh. Ở giai đoạn sau, Tổ sư Minh Đăng Quang được thờ sau lưng tháp thờ Phật. Hai hình ảnh là hoa sen và ngọn đèn chân lý trong điện làm biểu tượng cho dòng pháp “Nối truyền Thích ca Chánh”. Hoa sen là một biểu tượng cho sự tinh khiết, thanh cao của bậc tu hành giải thoát cũng như đem chánh pháp của chư Phật, thông qua ngọn đèn chân lý để thắp sáng trí tuệ, soi đường dẫn lối đến với sự giác ngộ giải thoát, dứt luân hồi và đến với sự an lạc vĩnh hằng.
Về thờ phượng
Ngoài tượng Phật Thích Ca được thờ ở chánh điện, trong tịnh xá Khất sĩ còn có một không gian thờ “cửu huyền thất tổ”. Đó là nơi thờ những vong linh đã quá vãng trong nhiều đời, nhiều kiếp, thân bằng quyến thuộc của phật tử. Trong điều kiện tiếp biến tôn giáo, hiện nay một số tịnh xá còn thờ thêm tượng Quán Thế Âm Bồ tát ngoài sân, trong khuôn viên tịnh xá…
Về pháp phục
Tổ sư Minh Đăng Quang chọn chiếc y cà sa có nét đặc trưng riêng, không giống hoàn toàn với Nam tông hay Bắc Tông mà giữ nguyên truyền thống thời Phật Thích Ca còn tại thế. Tăng ni đều tuân thủ tam y: y thượng, y trung và y hạ với màu vàng sậm. Ba y được quy định phải cùng màu, gọi là huỳnh y với sự kết hợp màu truyền thống của Phật giáo Bắc tông và truyền thống hoại sắc của y ca sa Phật giáo Nam tông (y trung và y hạ có thể nhạt hơn y thượng). Đối với y của ni, y trung tức là áo dài Việt Nam biến tấu, mang cổ và tay vuông vức, vừa tạo nét kín đáo cho ni giới, vừa phù hợp với văn hóa trang phục Việt Nam.
Tăng ni chỉ có một y thượng mặc suốt đời hoặc đổi một lần vào rằm tháng bảy mỗi năm và hai bộ đối với y trung và y hạ. Tăng đắp y chừa tay phải khi ở nhà và đắp y quấn khi ra ngoài. Ni luôn mặc áo dài tay và không đắp y quấn… Với cư sĩ tại gia, áo giới là trang phục của cư sĩ đã quy y, được dựa trên nền tảng chiếc áo dài truyền thống. Áo giới có màu trắng. Người cư sĩ gìn giữ áo giới là gìn giữ một tâm hồn trong sạch, luôn tưởng nhớ về tam bảo cũng như giữ gìn ngũ giới của phật tử.
Về các hoạt động chính
Khất thực
Hệ phái Khất sĩ xác định“con đường Khất sĩ là bố thí pháp học và hành, trao đổi với tài thí ở đời, để mình đi và dắt kẻ sau cùng đi” (Nhiều tác giả, 2016). Đó là phương châm “Thực hành trung đạo, Y Bát chơn truyền” với tinh thần pháp Khất thực gián tiếp dạy cho con người về hạnh bố thí. Mỗi ngày trì bình khất thực, ăn một bữa, không cất giữa và không ở cố định. Khất thực có nguồn gốc lịch sử lâu đời từ thời Phật Thích Ca. Đây là một pháp môn tu tập hướng đến giáo lý bình đẳng đại đồng, là cách nuôi thân theo chánh mạng thanh tịnh của người xuất gia. Đồng thời còn tạo cho chúng sinh giao duyên lành với Chánh pháp, vì khi khất thực, tăng ni tiếp xúc với chúng sinh, qua đó truyền giảng giáo lý.
Quy định về khất thực cụ thể thường là buổi sáng, thường đi một mình hay từng nhóm, đi từ nhà này sang nhà khác, không đứng trước cửa chợ, không phân biệt, mắt nhìn xuống và im lặng đứng trước mọi nhà, chở xem thức ăn đặt vào bình bát. Hằng năm, chư tăng ni an cư vào ba tháng mùa mưa, trong thời gian này, chư tăng ni không khất thực, chỉ lo việc tu học và được phật tử cúng dường các vật phẩm.
Cùng với khất thực, thuyết pháp là hoạt động rất quan trọng của Hệ phái Khất sĩ và được chia thành hai phương thức:
+ Một là, du phương khất thực thuyết pháp: Các đoàn tăng ni du hành khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn, đến mỗi nơi thường ở lại vài ngày đến nửa tháng, ban ngày đi khất thực, ban đêm tổ chức thuyết pháp.
+ Hai là, thuyết pháp cố định tại các tịnh xá: Vào các ngày rằm, 30 âm lịch hay ngày lễ, tăng ni thường tổ chức thuyết pháp. Hiện nay, một số tịnh xá còn tổ chức các lớp dạy giáo lý vào cuối tuần, với ý nghĩa cầu an và giúp cho phật tử vượt qua những khó khăn trong quá trình tu học.
***
Từ khi thành lập đến nay, Hệ phái Khất sĩ vẫn giữ được những giá trị đặc trưng của mình, và một phần mang tính văn hóa Nam Bộ. Tăng ni Khất sĩ mang tinh thần “trọng nghĩa khinh tài”, không tích trữ của cải, không lo tạo dựng nơi ở, sống cuộc sống bình yên, chỉ chăm lo tu hành và phổ độ chúng sinh. Hệ phái Khất sĩ có thể được xem là hệ phái Phật giáo riêng biệt của Việt Nam, mang những nét đặc trưng của văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng ở Nam Bộ.
Tác giả:
1. TS. Huỳnh Bá Lộc,
Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Văn Lang
Emai: loc.hb@vlu.edu.vn, Số điện thoại: 098 53 69 023
2. Lê Thành Trung,
Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM
Emai: lethanhtrung450@gmail.com, Số điện thoại: 093 81 72 847
[1] Trường Đại học Văn Lang, Khoa Khoa học Cơ bản. Email: loc.hb@vlu.edu.vn
[2] Lê Thành Trung, Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG- HCM. Email:lethanhtrung450@gmail.com



