1. Đôi nét về Tả quân Lê Văn Duyệt
Theo Đại Nam nhất thống chí: “Lê Văn Duyệt: người huyện Chương Nghĩa (tỉnh Quảng Ngãi), sau vào ngụ ở tỉnh Định Tường”((Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Huế, Nxb. Thuận Hóa, tr. 517.)). Trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, Lê Văn Hiếu (ông nội của Lê Văn Duyệt) với con là Lê Văn Toại (bố của Lê Văn Duyệt) đã di cư vào Nam, ngụ tại làng Hòa Khánh, tỉnh Định Tường.
Về diện mạo, sách Đại Nam liệt truyện miêu tả về Lê Văn Duyệt như sau: “hình thể ngắn nhỏ, tinh hãn, có tài lực” và bị khuyết tật bẩm sinh ở bộ phận sinh dục. Theo hồi ký ông John White, miêu tả: “Ông ta khoảng 50 tuổi, cái nhìn thông minh. Ông có vẻ hoạt động về thể chất và tinh thần. Gương mặt tròn và dịu dàng, mặt nhão, nhăn và không có râu; ông ta có vẻ giống như một bà già. Có giọng đàn bà chát tai”((Dẫn theo, Nhiều tác giả (2013), Sài Gòn xưa & nay, Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức – Tạp chí Xưa & Nay, tr. 66.)). Về tính cách, theo sách Đại Nam nhất thống chí: “Duyệt là người thâm trầm, dữ tợn, chiến đấu giỏi”((Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Huế, Nxb. Thuận Hóa, tr. 517.)).
Theo đánh giá của John White, Lê Văn Duyệt có “Dáng điệu và phong độ của ông này (Lê Văn Duyệt) có vẻ uy nghi lẫm liệt”, “luôn luôn muốn trao dồi kiến thức”, “có một khả năng tự nhiên rất mạnh và tầm kiến thức rất rộng”, “Chiến sự, chính trị, tôn giáo và những phong tục tập quán của các nước Âu Tây là những vấn đề mà ông bàn cãi đến một cách chăm chú”. Tiếp đó, John White viết: “Sau khi gặp gỡ bậc vĩ nhân đó, ai cũng thấy tiếc rằng lịch sử đã không xui khiến để ngôi báu lọt vào tay ông, vì ông mới là người biết dùng quyền lực để bồi đắp sự vinh quang và hạnh phúc cho dân tộc, hơn hẳn ông vua độc tài thuở ấy…”((Dẫn theo, Nhiều Tác giả (2015), Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ, Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức – Tạp chí Xưa & Nay, tr. 230.)).
Ngay từ năm 14, 15 tuổi, Lê Văn Duyệt thường tự than rằng: “Sinh ra ở thời đại loạn mà không dựng cờ nổi trống làm đại tướng, để công dân trên thẻ bạc, thì không đáng là một trượng phu vậy”((Viện sử học Việt Nam (2013), Đại Nam liệt truyện, Hà Nội, Nxb. Thuận Hóa, tr. 373.)).
Với khí chất đó, năm 1780, Nguyễn Ánh lên ngôi chúa tại Gia Định, Lê Văn Duyệt được tuyển vào làm Thái giám, bổ làm Thuộc nội cai đội, quản 2 đội thuộc nội. Trong hai lần bôn tẩu của Nguyễn Ánh để tránh sự truy lùng của Tây Sơn (1784 và 1785), Lê Văn Duyệt đều kề cận. Đến năm 1787, Lê Văn Duyệt thường xuyên tham gia bàn việc binh và được Nguyễn Ánh giao việc mộ lính để bổ sung lực lượng. Sau đó, Lê Văn Duyệt được giao nhiệm vụ cầm quân và tham gia các trận đánh.
Năm 1795, Lê Văn Duyệt và Nguyễn Đức Xuyên đã đánh tan quân của Trần Quang Diệu, giải vây thành Diêm Khánh. Tiếp đến, năm 1801, với chiến thắng lớn trong việc đánh tan thủy quân Tây Sơn tại đầm Thị Nại và sau khi chiếm Phú Xuân (Huế), Nguyễn Ánh phong Lê Văn Duyệt làm Khâm sai chưởng tả quân doanh Bình Tây tướng quân, được phong tước Quận Công.
Lê Văn Duyệt là người vừa có tài về quân sự, vừa có tài về chính trị, vì thế trong thời gian vua Gia Long trị vì, Lê Văn Duyệt luôn là một trong những người được tin cậy và đảm trách nhiều công việc quan trọng. Tháng 8/1812, Lê Văn Duyệt được lệnh làm Tổng trấn Gia Định thành, kiêm lĩnh hai trấn Bình Thuận, Hà Tiên và bảo hộ nước Chân Lạp. Trong các năm 1815 – 1817, Lê Văn Duyệt đã 4 lần dẹp loạn miền núi ở Quảng Ngãi.
Đến năm 1820, dưới triều vua Minh Mạng, với cương vị đại thần huân cựu, Lê Văn Duyệt được cử vào làm Tổng trấn Gia Định thành lần 2. Với trọng trách triều đình giao phó, trong 12 năm từ 1820 – 1832, vùng đất Nam Bộ sống trong thanh bình và thịnh trị.
Đến năm 1832, Lê Văn Duyệt bệnh, sau đó mất, thọ 69 tuổi. Vua tặng hàm Thái bảo, cho 10 cây gấm màu, 10 tấm nhiễu màu và 3.000 quan tiền, đến ngày an táng lại ban cho một tuần tế nữa.
Sau khi Lê Văn Duyệt mất, Lê Văn Khôi khởi binh chiếm thành Phiên An (6/1833), rồi chiếm cả Lục tỉnh Nam kỳ và chống lại triều đình nhà Nguyễn. Vua Minh Mạng truy cứu tội Lê Văn Duyệt. Đình thần nghị xử kết án Lê Văn Duyệt đáng tội trảm 7 điều, tội giảo 2 điều; truy đoạt chức tước, bằng sắc, hạ chiếu cho san bằng mộ, dựng kệ đề: “Quyền yêm Lê Văn Duyệt, phục pháp xứ”. Vợ, con, thân thuộc đều phải chịu tội.
Nỗi oan khuất của Lê Văn Duyệt mãi đến năm 1868, dưới triều vua Tự Đức mới được xét xử lại, quyết định xá tội và phục chức cho một số người, trong đó, có Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt được truy phục chức Vọng Các Công Thần, Chưởng Tả Quân, Bình Tây Đại Tướng Quân, Quận Công và được thờ tại miếu Trung hưng Công thần((Võ Hương – An (2021), Từ điển nhà Nguyễn, Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh – Tao đàn Thư quán, tr. 423.)).

2.Tả quân Lê Văn Duyệt và những yếu tố tác động đến nền kinh tế thương nghiệp Nam Bộ
Về chính trị
Thái độ đối với chính sách bài trừ thiên chúa
Ngay từ thời vua Gia Long, mặc dù có quan hệ mật thiết với Giáo hội Pháp, vua Gia Long cũng không chấp nhận được thái độ bất khoan dung của Thiên Chúa giáo với các tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, nhất là tục thờ cúng tổ tiên.
Đến những năm đầu triều Minh Mạng, việc truyền giáo của các giáo sĩ thừa sai vẫn được tự do, đến khi Thiên Chúa giáo xuất hiện các yếu tố chính trị ngày càng đậm nét. Tiêu biểu là sự can thiệp ngày càng sâu vào công việc triều chính của các giáo sĩ Thừa sai; sự góp mặt của giáo dân trong các cuộc nổi dậy chống lại triều đình và một số quan có thiện cảm, chấp nhận phép rửa tội của Thiên chúa giáo.
Do đó, vấn đề Thiên Chúa giáo ngày càng trở nên gay gắt và phức tạp đối với vua Minh Mạng. Năm 1823 – 1824, Minh Mạng đã nung nấu một chính sách cứng rắn đối với Thiên Chúa giáo; khi các quan cận thần trình một kế hoạch giải quyết vấn đề Thiên Chúa giáo theo kiểu Nhật Bản, vua trả lời rằng: “Cần gì phải bắt chước ai, trẫm có phương pháp của trẫm, có khi còn hoàn bị và hữu hiệu hơn các phương pháp của các vua Nhật”((Dẫn theo, Nhiều Tác giả (2015), Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ, Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức – Tạp chí Xưa & Nay, tr. 63 – 64.)).
Ngày 12/02/1825, Minh Mạng ra sắc lệnh bài trừ Thiên Chúa giáo, giáo đoàn bị cấm vào Việt Nam. Tiếp theo, năm 1862, Minh Mạng cấm mọi hoạt động truyền giáo ở Việt Nam và cho tập trung cho tất cả các thừa sai tới Huế, giúp triều đình trong việc dịch thuật. Thực tế, triều đình muốn kiểm soát hoạt động của các thừa sai và hạn chế việc truyền đạo của họ.
Vào thời điểm đó, vùng đất Nam Bộ được xem là nơi có đa dân tộc, đa tôn giáo và sự cộng tồn của các thành viên thuộc những tôn giáo khác nhau; trong đó, có Thiên Chúa giáo. Trước những chính sách bài trừ Thiên Chúa giáo của Minh Mạng và sự cầu cứu của các thừa sai đang bị triệu hồi ở Huế. Tháng 8/1827, Lê Văn Duyệt đích thân về Huế, khuyên nhà vua tiếp tục giữa hòa khí với Thiên Chúa giáo như thời vua Gia Long đã từng làm. Ông Launay ghi lại: “Tâu hoàng thượng, chúng ta tính bắt bớ các đạo trưởng Tây dương, trong khi chúng ta còn phải nhai cơm do các vị đó cung cấp cho chúng ta sao? Ai đã giúp hoàng thượng lấy lại giang sơn? Hình như hoàng thượng không sợ mất nước? Tây Sơn đã chém người Công giáo, Tây Sơn đã mất ngôi. Vua xứ Pegor (Miến Điện) vừa đuổi các vị linh mục ra khỏi nước họ, liền bị xô khỏi ngai vàng […] Không được! Chừng nào thần còn sống, Hoàng thượng sẽ không được làm điều ấy”((Dẫn theo, Nhiều Tác giả (2015), Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ, Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức – Tạp chí Xưa & Nay, tr. 67.)).
Theo ông Chaigneau đánh giá: “Trong những đại thần thân Pháp, chỉ có Lê Văn Duyệt dám đương đầu với Minh Mạng và những người thân cận với nhà vua. Lê Văn Duyệt dám chỉ trích công khai về việc Minh Mạng đã chà đạp lên đường lối chính trị khôn ngoan của vua cha và đối xử bội bạc với những người từng đem lại ngôi báu cho dòng họ mình. Duyệt là người có năng lực khác thường, có những năng lực đặc biệt của một ông tướng và một nhà chính trị”((Dẫn theo, Nhiều Tác giả (2015), Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ, Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức – Tạp chí Xưa & Nay, tr. 66.)).
Năm 1826, giáo sĩ Gagelin đã ghi lại không khí ở Gia Định, như sau: “Đồng Nai (Gia Định) nằm ngoài sự khủng bố. Tại đây, hoạt động tôn giáo không những được khoan dung mà còn hoàn toàn tự do”((Dẫn theo, Choi Byung Wook (2011), Vùng đất Minh Mạng dưới triều Minh Mạng, Hà Nội, Nxb. Thế giới, tr. 111.)).
Có thể nói, dưới thời Lê Văn Duyệt giữ chức Tổng trấn thành Gia Định, giáo dân của Thiên Chúa giáo Nam Bộ được sống bình yên với đức tin hơn bất cứ nơi nào.
An ninh, quốc phòng
Trong thời kì làm Tổng trấn thành Gia Định, Lê Văn Duyệt bài trừ được nạn trộm cướp, nhân dân an cư lạc nghiệp. Đối với việc cai trị, Lê Văn Duyệt thẳng tay trừng trị quan tham (chém đầu Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý, cha vợ của vua Minh Mạng); trọng dụng người thanh liêm, có tài (giao cho Thoại Ngọc Hầu coi giữ vùng biên giới với cao Miên).
Bên cạnh đó, Lê Văn Duyệt đã sử dụng sức lao động của những tù nhân, sử dụng người có năng lực và bỏ qua quá khứ sai lầm của họ. Ở đây, họ có cơ hội được sống tốt hơn và có thể tiến lên địa vị xã hội cao hơn.
Đối ngoại
Lê Văn Duyệt chủ trương đề cao uy thế của đất nước, luôn giữ quan hệ thân thiện đúng mức với Vạn Tượng và Cao Miên. Có thể thấy, một mặt Lê Văn Duyệt chú trọng phòng thủ chắc chắn, mặt khác sẵn sàng chủ động tấn công trong trường hợp cần thiết. Trong đó, kênh Vĩnh Tế thể hiện rõ tư duy chiến lược quân sự của ông, kênh được xem là tuyến phòng thủ hữu hiệu phía Tây Nam, vừa có ý nghĩa về kinh tế, vừa có ý nghĩa về chính trị và đối ngoại. Đối với phương Tây, Lê Văn Duyệt chủ trương mở cửa, thông thương và giao lưu với một số nước phương Tây.
Về kinh tế
Nội thương: Lê Văn Duyệt khuyến khích người dân khai hoang, lập ấp và mở rộng đồn điền (bao gồm cả lưu dân, dân binh và phạm nhân). Tổ chức đắp đường xây lũy, đào kênh và thực hiện tốt chính sách trị quốc, an dân.
Lê Văn Duyệt đã có công to lớn trong việc hoàn thành sông Vĩnh Tế, góp phần làm thay đổi vùng đất cực Tây Nam của đất nước. Kênh Vĩnh Tế đã dẫn nước ngọt vào tận những đồng ruộng, giúp cải tạo đất mặn, đất phèn, tạo nên những cánh đồng phì nhiêu, màu mỡ; dẫn đến nhiều vùng đất mới được khai hoang và xóm làng ngày càng mọc lên đông đúc.
Tháng 02/1823, sông Vĩnh Tế bắt đầu khởi công, Lê Văn Duyệt xin hơn 35.000 binh dân ở thành và các trấn Vĩnh Thanh, Định Tường, đồn Uy viễn và hơn 10.000 binh quân nước Chân Lạp cùng làm, mỗi tháng cấp tiền và gạo((Dân hạt thành mỗi tháng tiền 6 quan, gạo 1 phương, mỗi 5.000 người đặt 150 người chức dịch, cấp tiền 1.000 quan, gạo 150 phương. Dân Chân Lạp mỗi tháng tiền 4 quan 5 tiền, gạo 1 phương, mỗi 5.000 người đặt 100 người đầu mục ốc-nha Bồn-nha, cấp tiền 1.000 quan, gạo 150 phương.)). Đến tháng 4, bước vào mùa hạ, việc đào sông còn hơn 1.700 trượng((Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập II, Quảng Nam, Nxb. Giáo dục, tr. 280.)), vua cho tạm ngưng, ban thưởng cho Lê Văn Duyệt lụa và đại ngọc. Đến tháng 02/1824, việc đào kênh Vĩnh Tế được tiếp tục, với binh dân các trấn thuộc thành và hơn 24.000 binh dân nước Chân Lạp. Ngoài việc đào xong đoạn còn lại, còn phải nới rộng thêm lòng kênh từ 6 trượng đào rộng thành 15 trượng((Dẫn theo, Nguyễn Quang Ngọc (2017), Vùng đất Nam Bộ, tập IV, từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 235.)); đến tháng 5/1824, việc đào sông được hoàn tất.
Trải qua 5 năm , kênh Vĩnh Tế đã thông thương với chiều dài gần 100 km, nối liền Châu Đốc với Hà Tiên. Kênh Vĩnh Tế vừa là đường giao thông thủy, vừa là hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp. Theo Đại Nam nhất thống chí: “Từ đấy đường sông mới thông, việc biên phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”((Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Huế, Nxb. Thuận Hóa, tr. 207)).
Bên cạnh đó, tháng 2/1829, Lê Văn Duyệt vâng lệnh vua tổ chức dân binh hai trấn Phiên An và Định Tường 16.000 người khởi vét sông Tà Cầu, chỉ 1 tháng hoàn tất, dài 1.220 trượng, rộng 9 trượng và sâu 1 trượng.
Ngoại thương, trong bối cảnh triều đình thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”, Lê Văn Duyệt đã chủ trương mở cửa, khuyến khích thương mại, cho tàu các nước ra vào các cửa mua bán hàng hóa, bao gồm cả phương Tây.
Có thể thấy, với tài năng của mình, Lê Văn Duyệt đã thi hành những chính sách cai trị có phần khác với triều đình nhà Nguyễn, góp phần tác động mạnh mẽ đến nền sự chuyển biến của nền kinh tế Nam bộ nói chung và thương nghiệp nói riêng.
3. Nền thương nghiệp Nam Bộ dưới tác động của Tả Quân Lê Văn Duyệt
- Về nội thương
Theo Gia Định thành thông chí, đầu thế kỷ XIX, Nam Bộ có một hệ thống chợ dày đặc và nhiều chợ lớn như trấn Phiên An (chợ phố Bến Thành, chợ phố Lịch Tân, chợ Tân Cảnh, phố Sài Gòn), trấn Biên Hòa (Phố lớn Nông Nại, chợ Bến Cá, chợ Bà Lỵ), trấn Định Tường (chợ Phú Lương, chợ Hưng Lợi) và trấn Vĩnh Thanh (chợ Long Hồ, chợ Sa Đéc) và trấn Hà Tiên (chợ Sái Phu, Chợ Hoàng Giang, chợ Sân Chim).
Bên cạnh đó, hình thức chợ nổi bắt đầu xuất hiện ở Nam Bộ. Hàng hóa đa dạng, phong phú như các loại nông sản, đồ thủ công mỹ nghệ và các món ăn dân giả. Tiêu biểu như chợ Cái Răng (Cần Thơ), chợ Phong Điền (Cần Thơ), chợ Cái Bè (Tiền Giang), chợ Long Xuyên (An Giang) và chợ Ngã Năm (Sóc Trăng).
Trong nửa đầu thế kỷ XIX, thóc gạo đã trở thành mặt hàng nông sản chủ yếu của Nam Bộ. Trong đó, vùng sản xuất thóc gạo nổi tiếng là Gò Công và Chợ Gạo (Định Tường). Dưới thời vua Minh Mạng (1820 – 1840), số ghe thuyền buôn bán và vận chuyển thuế sản vật cho triều đình giữa Nam Bộ và Trung Bộ, khoảng 2.000 chiếc (mỗi thuyền chở được từ 30 đến 45 tấn)((Huỳnh Lứa (1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Hồ Chí Minh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 155.)). Năm 1930, vua Minh Mạng nhận định rằng: “thành Gia Định là trấn lớn ở miền Nam, ruộng đất màu mỡ, thóc gạo nhiều hơn cả mọi nơi, trước nay từ Bình Định trở ra Bắc đều nhờ có gạo miền Nam”((Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập II, Quảng Nam, Nxb. Giáo dục, tr. 342.)).
Bên cạnh lúa gạo, nhiều nông sản khác cũng được buôn bán rộng rãi. Chợ An Bình (Định Tường), nơi tập trung nhiều thương gia buôn bán cau; Cau được chở đi bán ở nhiều nơi, nhất là đến chợ Sài Gòn. Cù lao Tân Triều (Biên Hòa), ở “Mười tám thôn vườn trầu” (Gia Định), nơi có tập trung trầu rất nhiều; dân “Mười tám thôn vườn trầu” thường đi theo từng tốp khoảng 30, 40 người xuống bán ở chợ Sài Gòn và chợ Bến Nghé. Ngoài ra, còn có các mặt hàng khai thác từ sông, biển (cá, khô, mắm và tôm khô), muối, vải, các mặt hàng lâm thổ sản (dầu rái, mây, nhựa trám) và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ cũng trở thành những hàng hóa quan trọng.
Ngay từ thế kỷ XVII, XVIII, Cù lao Phố, Mỹ Tho đại phố và thương cảng Hà Tiên được xem làm các trung tâm kinh tế quan trọng của vùng đất Nam Bộ nhưng đến cuối thế kỷ XVIII, các trung tâm dần bị suy tàn. Trong đó, Sài Gòn – Bến Nghé là một trung tâm xuất hiện vào cuối thế kỷ 18 và phát triển mạnh vào nửa đầu thế kỷ XIX. Theo John Crawfurd: “nó không thua gì kinh đô của nước Xiêm”((Nhiều Tác giả (2015), Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ, Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức – Tạp chí Xưa & Nay, tr. 258.)).
Theo bác sĩ George Finlayson đã mô tả về khu chợ ở Bến Nghé như sau: “Có lẽ không có nước nào sản xuất nhiều trầu hay cau như nơi này. Lá trầu chỉ ít hơn; cá khô và tươi; gạo, khoai lang chất lượng rất tốt, ngô bắp Ấn Độ, măng tre đã được nấu chín; gạo, sắp nảy mầm, đường thô, chuối lá, cam, bưởi, lựu và thuốc lá rất nhiều. Heo được bán rất nhiều và gà trong tình trạng tốt đều bán rất rẻ. Thịt cá sấu rất được chuộng” và “sản phẩm chế tạo của Âu châu tràn lấn sản phẩm bản xứ; và anh khó có thể kêu một tên sản phẩm Âu nào mà không tìm thấy ở các cửa tiệm”((Nguyễn Đức Hiệp (2016), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn Nghệ, tr. 87.)).
Theo Trương Vĩnh Ký mô tả: “Từ tường thành Gia Định đến bờ sông Sài Gòn là một phần chính của thành phố thương mại xưa của người Việt gồm một số nhà, cửa tiệm xen kẽ với các đường hẻm”((Nguyễn Đức Hiệp (2016), Sài Gòn – Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa – Văn Nghệ, tr. 102.)).
Đầu thế kỷ XIX, Chợ Lớn được xem là trung tâm thương mại trù phú của Nam Bộ, có nhiều trạm thương mại của người Bồ Đào Nha và sự mua bán tấp nập của các tàu thuyền nước ngoài. Bên cạnh đó, thương nhân người Hoa đã có một hệ thống doanh thương rộng khắp trong vùng. Sản phẩm đa dạng, nhiều nhất là gạo, đường, cá khô, ngà voi và sừng tê giác.
- Về ngoại thương
Lê Văn Duyệt luôn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các tàu ngoại quốc đến Gia Định như tàu của Anh, Pháp,… và không phân biệt xuất xứ của thương nhân, miễn là họ tôn trọng luật pháp Việt Nam.
Vì thế, ở Nam Bộ, dưới thời Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt các thuyền buôn như Xiêm, Malaysia, Trung Hoa thường xuyên đến buôn bán. Đồng thời, các thương nhân ở Nam Bộ cũng đến các hải cảng ở Nam Dương, Malacca và Singapore, bất chấp lệnh cấm vượt biển để buôn bán của triều đình. Theo John Crawfurd cho biết, vào năm 1821, trung bình mỗi năm có 20 ghe thuyền tư nhân Việt Nam (phần lớn Nam Bộ) đến buôn bán với Singapore((Lê Văn Năm (1988), Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở Nam Bộ thế kỷ XVII – đầu XIX. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 242 + 243 (tháng 5+6), tr. 82.)). Trong khi đó, nhà Nguyễn chỉ phái 6 chiếc thuyền đến Singapore để buôn bán.
Hàng hóa buôn bán giữa Nam Bộ và các nước thường là lúa gạo, đồng, ngà voi, cánh kiến, muối, đường cát, tơ sống và nhiều loại khác. Hàng chở về bao gồm nha phiến, vũ khí, sắt, chì, kẽm, hàng vải của Châu Âu và những sản phẩm tiêu dùng. Thuyền buôn Trung Quốc từ Amoy chủ yếu chở đến là chà là; từ Quảng Châu chở đến là hàng len với số lượng lớn dùng cho quân đội.
Trong nửa đầu thế kỷ XIX, Sài Gòn – Bến Nghé là thương cảng quan trọng, thu hút nhiều thường buôn nước ngoài, nhất là thương buôn Trung Quốc. Thuyền Trung Quốc đến nhiều cảng ở Việt Nam như Hội An (16 chiếc), Huế (12 chiếc), các cảng ở Bắc Bộ có 3 chiếc. Trong khi đó, tại Sài Gòn, hàng năm có khoảng 20 thuyền buôn Trung Quốc với trọng tải khoảng 6.500 tấn đến buôn bán((Lê Văn Năm (1988), Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở Nam Bộ thế kỷ XVII – đầu XIX. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 242 + 243 (tháng 5+6), tr. 82.)):
- 15 đến 25 thuyền của Hải Nam, chở từ 2.000 đến 2.500 tạ mỗi chiếc.
- 2 thuyền từ Quảng Châu, 1 thuyền chở 500 tạ và 1 thuyền 800 tạ.
- 1 thuyền của Amoy, chở 700 tạ.
- 6 thuyền của Giang Nam, chở từ 6.000, 7.000 tạ mỗi chiếc.
Có thể nói, đầu thế kỷ XIX, cả nước đều đặt dưới sự ảnh hưởng của chính sách bế quan tỏ cảng của triều Nguyễn. Nhưng vùng đất Nam Bộ với những chính sách của Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt, đã góp phần tác động tích cực đến nền kinh tế thương nghiệp Nam Bộ nói riêng và nền kinh tế Nam Bộ nói chung, có sự vận động và phát triển nhất định.
***
Lê Văn Duyệt sinh ra, lớn lên và hoạt động trên một vùng đất mới, nơi mang đậm tính mở và tính khai phóng. Do đó, chính sách cai trị của Lê Văn Duyệt đã phản ảnh tư tưởng mở rộng đa chiều mà những đặc trưng của vùng đất Nam Bộ tạo nên. Lê Văn Duyệt đã đi ngược lại một số chính sách cai trị của triều đình nhà Nguyễn; thực hiện chủ trương khuyến nông, trọng thương, mở cửa và giao thiệp với phương Tây. Nhưng chính vì thế, Lê Văn Duyệt đã xây dựng một nền kinh tế thương nghiệp phát triển sầm uất ở Nam Bộ, được xem là một trong những điểm nhấn sáng trong suốt chiều dài lịch sử của triều Nguyễn.
Tác giả:
Lê Thành Trung,
Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM
Email: lethanhtrung450@gmail.com, Số điện thoại: 0938 172 847



