Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đứng lên, chiến đấu kiên cường và nối tiếp truyền thống quật cường của dân tộc Việt Nam. Nổi bật khởi nghĩa của anh hùng Trương Định tại địa bàn Gò Công, là ngọn cờ đầu trong toàn bộ phong trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam và nhân dân Nam Bộ nói riêng chống thực dân Pháp xâm lược((GS. Nguyễn Phan Quang – TS. Lê Hữu Phước, Khởi nghĩa Trương Định, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.168.)).
1. Trương Định và cuộc dấy binh

Trương Định còn có tên là Trương Công Định. Ông sinh năm 1820 tại làng Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Trương Định sống ở quê hương Quảng Ngãi, mãi đến năm 24 tuổi mới theo cha là Trương Cầm vào Nam((https://thuvienlichsu.com/nhan-vat/truong-dinh-282.)).
Sau khi cha ông mất, ông ở nơi cha đóng quân và kết hôn với con gái của một hào phú ở huyện Tân Hòa (Gò Công Đông ngày nay). Nhờ sự trợ giúp của vợ Trương Định xuất tiền chiêu mộ dân nghèo khai hoang, lập đồn điền Gia Thuận (Gò Công), với công lao ấy triều đình Huế phong cho ông chức Quản cơ, hàm Lục phẩm, người ta thường gọi ông là Quản Định.
J. Silvestre đã nhận xét về Lãnh binh Trương Công Định như sau: “Ông ta là một người thông minh, lanh lợi, can đảm và bất khuất; ông ta được thúc đẩy bởi sự thù ghét người ngoại quốc cũng như bởi lòng trung thành với nước An Nam”((Đặc khảo về Trương Công Định, Sử Địa, số 3,1966.)).
Bản tiểu sử Trương Định hiện treo tại đền thờ ông ở Gò Công ghi (trích):
“Thời Tự Đức, Trương Định chiêu mộ dân nghèo, khai hoang, lập đồn điền ở Tân Hòa, được bổ làm Quản cơ. Tướng mạo ông khôi ngô, giỏi võ nghệ, thông binh thư, thi đậu cử nhân võ. Ông từng giữ chức Chánh quản cơ chỉ huy 6 liên đội, phòng giữ Đại đồn Chí Hòa chống Pháp…”((https://voer.edu.vn/m/truong-dinh/d453340f.)).
Những phát súng đại bác đầu tiên từ tàu chiến Pháp đã nã vào cửa biển Đà Nẵng đã chính thức mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp. Ở Đà Nẵng Pháp thất bại với kế hoạch “giáng cho Huế một đoàn nặng quyết định”, Đơ Giơ-nui-i thay đổi kế hoạch quyết định đem quân đánh vào Gia Định vì “Sài Gòn có triển vọng trở thành trung tâm của một nền thương mại rộng lớn… Xứ này giàu về mọi sản phẩm, mọi thứ đều đầy dẫy”((Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Tủ sách Sử – Địa học, tr. 29.)).
Ngày 10/2/1859, hải quân Pháp bắn đại bác vào Vũng Tàu. Đến ngày 17/2, quân Pháp đổ bộ tấn công thành Gia Định, sau hai ngày thành Gia Định thất thủ. Trước tình hình đó, triều đình chỉ lo xây hào đắp lũy để phòng địch tràn ra và mong thương thuyết có kết quả, cho rằng Pháp sẽ rút đi như chúng đã bỏ Đà Nẵng. Bên cạnh đó, về phía nhân dân, nhân dân nổi lên chiến đấu ngay từ lúc đầu; họ tích cực trong việc đầu quân, góp lương, góp tiền,… Họ tự tổ chức những toán nghĩa quân càng ngày càng đông và nhân dân Gia Định còn tự thiêu hủy nhà cửa, sơ tán hết, không hợp tác với giặc.
Những tháng đầu năm 1861, quân Pháp đang tập trung đánh chiếm Biên Hòa và Vĩnh Long, nhân cơ hội đó Trương Định tranh thủ bố trí trận địa, tích trữ lương thực, chế tạo vũ khí,… Trương Định chọn Quy Sơn thuộc huyện Tân Hòa (còn gọi là căn cứ Tân Hòa, nay là thị trấn Gò Công), vừa khẩn hoang xây dựng căn cứ, Trương Định tranh thủ bố trí những trận phục kích nhỏ nhằm tiêu hao lực lượng của giặc, cướp vũ khí của giặc và tập hợp thêm lực lượng.
Căn cứ Tân Hòa ngày càng thu hút nhân dân các vùng xung quanh và nhanh chóng trở thành trung tâm hội quân của nhiều lực lượng chống Pháp. Sức mạnh của nghĩa quân ngày càng tăng thêm nhờ liên kết, phối hợp với lực lượng của các viên quan triều đình như quân của Đốc Phủ Long Tường, Trương Văn Uyển, Đỗ Thúc Tĩnh,… Theo sử triều Nguyễn xác nhận: “Định đóng đồn ở xứ Gò Thượng thuộc huyện Tân Hòa, thường ra đánh úp quân Tây Dương. Nghĩa sĩ nhiều người đi theo”((Nguyễn Thông (1984), Lãnh binh Trương Định truyện, bản dịch của Cao Tự Thanh và Đoàn Lê Giang, Tác phẩm Nguyễn Thông, NXB. Sở VHTT Long An.)).
Ngày 5/6/1862 triều đình kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất, gồm 12 điều khoản, nội dung cơ bản được tập trung qua mấy điều khoản sau((GS. Nguyễn Phan Quang – TS. Lê Hữu Phước (1989), Khởi nghĩa Trương Định, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.94.)):
- Điều 3: Trọn 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn nhường đứt cho Pháp. Người Pháp được quyền lưu thông thương mại trên sông Cửu Long và các nhánh sông này bằng tất cả các loại tàu thuyền, kể cả các chiến thuyền đi tuần tra trên sông.
- Điều 10: Tàu ghe ở ba tỉnh miền Tây được vào ba tỉnh miền Đông buôn bán nếu chịu theo luật lệ của Pháp và phải được báo trước, nếu không sẽ bị bắt, bị tịch thu và phá hủy.
- Điều 11: Thành Vĩnh Long do quân đội Pháp đóng giữ và sẽ được trả lại một khi vua An Nam ra lệnh chấm dứt các cuộc nổi loạn đang diễn ra trong các tỉnh Gia Định, Định Tường và những người cầm đầu các cuộc nổi loạn đi khỏi (các tỉnh trên), để trong xứ có an ninh và quy thuận.
Hiệp ước Nhâm Tuất 1862, gây bất bình lớn trong cả nước và sự phản ứng mạnh mẽ của các sĩ phu yêu nước. Hiệp ước cho thấy rằng, phong trào kháng chiến của nhân dân nói chung, của nghĩa quân Trương Định nói riêng từ nay phải đơn độc đối phó với kẻ thù, đồng thời hiệp ước đã tạo cơ sở pháp lý cho giặc Pháp đàn áp nghĩa quân. Nhưng tác động nặng nề nhất là về mặt tinh thần: tướng sĩ và nghĩa quân hoang mang dao động, không biết xử trí sao trước lệnh bãi binh của triều đình.
Triều đình tin Pháp, ký hòa ước còn nghĩa quân đều một lòng quyết tâm đánh giặc và họ yêu cầu Trương Định ở lại. Trương Định đang do dự trước việc ở lại cùng đồng đội chiến đấu chống Pháp, nhưng ở lại thì sẽ trái lại mệnh lệnh của triều đình. Trước tình hình đó, Phan Tuấn Phát truyền thơ cho các đội nghĩa quân, gợi ý suy tôn Trương Định làm chủ soái; từ đó như làn sóng, nơi nơi đều hoan hô chủ soái Trương Định, mọi người cùng nhau đắp đàn làm lễ cử người đem nhiễu đỏ choàng lên vai Trương Định, suy tôn Trương Định lên làm Bình Tây Đại Nguyên soái.
Nam Bộ trong buổi đầu chiến đấu sôi sục chống thực dân Pháp xâm lược dưới sự lãnh đạo của anh hùng Trương Định.

2. Trương Định phất cao lá cờ bình Tây
Lúc bấy giờ, cùng với khởi nghĩa Trương Định vào căn cứ Gò Công, cao trào chống Pháp diễn ra mạnh mẽ ở nhiều địa phương đã đẩy quân Pháp vào tình trạng bế tắc trầm trọng. Chiến sự ác liệt, khí hậu khắc nghiệt, bệnh tật,… làm cho quân số suy giảm nhanh chóng và không được sự chi viện của chính quốc.
Nghĩa quân Trương Định tiến hành một loạt trận đánh vang dội sau khi triều đình kí hòa ước. Ngày 6/12/1862, nghĩa quân bố trí đánh chiếc thuyền trên sông Vàm Cỏ mở màn cho cuộc tổng công kích 10 ngày sau. Cuộc Tổng công kích của nghĩa quân Trương Định bất ngờ và đồng loạt ngày 16/12, nghĩa quân tấn công đồng loạt hầu hết các đồn ở Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho như tập kích đồn Rạch Tra, tấn công đồn Long Thành, đồn Rạch Kiến,…
Tập kích đồn Rạch Tra, đây là trận đánh lớn đầu tiên của nghĩa quân. “Lợi dụng đêm tối, nghĩa quân leo lên đồn, giết lính gác, đột nhập vào trong đồn, giết chết đồn trưởng Thouroude bằng mác gỗ, thu được hầu hết khí giới, đạn dược rồi rút lui”((Đoàn Minh Huấn – Nguyễn Ngọc Hà (2017), Vùng đất Nam Bộ, tập V, từ năm 1859 đến năm 1945, NXB. Chính trị Quốc gia, tr.57.)).
Ở Biên Hòa, hàng nghìn đồng bào Kinh và đồng bào thiểu số tiến đánh các trại giặc.
Ở Bà Rịa, quân khởi nghĩa chiếm được nhiều huyện. Tại huyện Long Thành, viên tri huyện bị giết, toàn thể lính mã tà về theo nghĩa quân.
Tập kích chiến thuyền tại Bến Lức và vây đồn Phước Hòa, nghĩa quân chia thành nhiều toán tiến đánh thuyền chiến của giặc tại Bến Lức. Trong trận này có lực lượng của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực và đồng thời có khoảng 1.000 nghĩa quân đến bao vây đồn giặc tại Phước Hòa, lính Pháp chống cự không nổi phải cầu cứu lính Tây Ban Nha giúp đỡ.
Ở Mỹ Tho, hơn 1.200 nghĩa quân tiến đánh đồn Thuộc Nhiêu, nghĩa quân chiếm được và kiểm soát được trục đường Sài Gòn – Biên Hòa.
Tấn công đồn Rạch Kiến, cuộc công kích đồng loạt của nghĩa quân trong ngày 18/12/1862, nghĩa quân đã tập kết khoảng 2.000 người, có trang bị súng đại bác bắn đá, gây cho giặc nhiều thiệt hại nặng nề((Nguyễn Xuân Huy (1965), Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, NXB. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, tr.34.)).
Tháng 1/1863, nghĩa quân Trương Định đẩy lùi hàng loạt cuộc càn quét của địch và bẻ gãy các cuộc tấn công của địch vào căn cứ Gò Công. Song song với các trận chống càn quét, nghĩa quân Trương Định còn phối hợp với nhân dân phá đường giao thông Sài Gòn – Mỹ Tho và cắt dây điện thoại từ Sài Gòn – Vũng Tàu, Biên Hòa – Bà Rịa.
“Người An Nam với vũ khí thô sơ, chống với súng ca – ra – bin, họ cứ việc nhào vô đánh với một nghị lực mù quáng, chứng tỏ rằng họ can đảm và quyết tâm một cách phi thường”((Trần Văn Giàu, Tổng tập, phần thứ nhất chống xâm lăng, quyển thứ nhất Nam Kỳ kháng Pháp, NXB. Quân đội nhân dân.)).
Cuộc chiến đấu của nghĩa quân trương định trong tháng 1/1963, nghĩa quân trương định cản phá các đợt hành quân càn quét của giặc pháp:
Phục kích toán quân của tiểu đoàn trưởng Cô – kê (Coquet): Ngày 1/1/1863, một toán quân giặc gồm 25 bộ binh, 12 pháo thủ và 13 kỵ binh, hiến binh trang bị một khẩu dã pháo do tiểu đoàn trưởng thủy quân lục chiến Cô – kê, trên đường đi liên lạc với các linh mục Gia Tô và sách nhiễu quân. Bị lọt vào trận phục kích, nghĩa quân chặn đánh bất ngờ, toán lính của Cô – kê vừa đánh vừa lùi, để lại trên trận xác 2 kỵ binh và 7 con ngựa bị thương((Dẫn theo GS. Nguyễn Phan Quang – TS. Lê Hữu Phước (1989), Khởi nghĩa Trương Định, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh.)).
Bẻ gãy cuộc tấn công của giặc vào căn cứ Gò Công. Thực dân Pháp vừa được chi viện một đơn vị thủy quân lục chiến, Pháp tiến hành cuộc tấn công vào căn cứ nghĩa quân nhằm xoay chuyển tình thế. Quân giặc theo hướng Gò Đen tấn công hệ thống tiền đồn bảo vệ trung tâm Gò Công. Nghĩa quân do Phạm Tuấn Phát chỉ huy chặn đánh giặc tại Gò Đen, tiến hành phân tán lực lượng, bố trí những trận địa phục kích trên đường giặc di chuyển. Tuy hai cánh quân thủy bộ của giặc đã phối hợp được với nhau, nhưng khi lực lượng của giặc tiến đến Cần Đước bị nghĩa quân do Bùi Huy Diệu chỉ huy chặn đánh kịch liệt. Sau hơn 6 ngày giáp chiến với nghĩa quân, cuộc tấn công vào căn cứ Gò Công được chuẩn bị chu đáo với lực lượng khá tập trung của thực dân Pháp coi như hoàn toàn bị bẻ gãy((Nguyễn Xuân Huy (1965), Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, NXB. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, tr.35,38.)).
Điều đáng nhấn mạnh trong cuộc khởi nghĩa Trương Định là sự tham gia tích cực của các đồng bào dân tộc ít người như Xtiêng ở Bắc Thủ Dầu Một, đồng bào Chơro ở đông Bà Rịa, phối hợp với nghĩa quân Trương Định tấn công vào các đồn bốt và phục kích tiêu diệt những cánh quân Pháp trên địa bàn Biên Hòa – Bà Rịa.
Trước sự tấn công dồn dập của nghĩa quân Trương Định phối hợp với đồng bào các dân tộc thiểu số đã làm cho tiêu hao lực lượng địch và buộc phải phân tán đóng giữ những vùng đã chiếm. Trong báo cáo về Pháp ngày 27/1/1863, Bô – na viết: “Lực lượng chúng ta đang giảm dần vì chết, vì bệnh,… đang mòn mỏi từng ngày. Rõ ràng là không thể tiếp tục trong 6 tháng một chiến trận như thế này. Chúng ta thiếu bộ binh, thiếu hải binh, thợ máy, phương tiện chuyên chở”((Dẫn theo GS. Nguyễn Phan Quang – TS. Lê Hữu Phước (1989), Khởi nghĩa Trương Định, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.150.)).
Ngày 17/1/1863, cuộc công kích đang diễn ra mạnh mẽ, Trương Định ra bản “Tuyên cáo với quan lại Vĩnh Long”, vừa khẳng định vừa làm tăng ý chí quyết chiến của nghĩa quân: “Chúng tôi sẵn sàng chiến đấu và ở miền đông cũng như miền tây, chúng tôi sẽ đề kháng, chúng tôi sẽ xông pha và sẽ phá tan lực lượng của địch”((Bảng sao bằng tiếng Pháp “Tuyên ngôn của Quản Định” do Bùi Quang Trung sưu tầm tại kho lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp và công bố trên tập san Sử Địa số 22 (1971). Sử dụng bản dịch Nguyễn Công Trứ (Tập san cùng số, tr.47).)).
Khoảng đầu tháng 2/1863, Pháp có thêm viện binh từ hạm đội Trung Quốc về, từ Phi Luật Tân qua và tứ Pháp sang, Bô – na quyết định huy động đại lực tấn công Trương Định. Địch đem quân đánh Quy Sơn, Trương Định lập kế dụ địch sa vào đám bùn lầy, làm cho địch bước đầu bị thất bại và thua trận ở Quy Sơn. Thất bại ở Quy Sơn, ngày 25/2/1863, địch tổng tấn công, bao vây căn cứ; Trương Định đốc thúc nghĩa quân chống cự anh dũng, kiên cường không ngơi nghỉ trong ba ngày, trước thế lực của giặc mạnh, quân ta thì thuốc nổ đã hết, đến ngày 28/2 thì đại binh tan vỡ và địch chiếm được Tân Hòa.
Trước tình hình khó khăn, Trương Địch chuyển căn cứ qua rừng Lý Nhơn, chuẩn bị lương thực, vũ khí, chiêu mộ thêm nghĩa quân và phát lời hịch. Ngày 25/9/1863, được bọn tay sai mật báo quân Pháp bất ngờ tấn công vào Lý Nhơn, nghĩa quân Trương Định chống trả quyết liệt, rồi rút về đóng quân ở khu vực đồn điền Gia Thuận. Ngày 19/8/1964, tên phản bội Huỳnh Công Tấn cho quân bao vây, đội Tấn có ý muốn bắt sống Trương Định nhưng tình thế nguy cấp ông cho quân bắn tới tấp vào phía nghĩa quân và chính Huỳnh Công Tấn cũng bắn mấy phát và trúng vào xương sống của Trương Định, hy sinh tại trận.
3. Cờ nghĩa dấy lên khắp miền Lục Tỉnh
Cùng với cờ nghĩa của Trương Định, hàng loạt cuộc khởi nghĩa nổ ra như Đỗ Trình Thoại, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dõng, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân,…
Sau khi Trương Định hy sinh (20 /8/1864), con ông là Trương Quyền đã kéo quân lên xây dựng cơ sở kháng chiến ở vùng Tháp Mười – Tây Ninh, liên minh với nhà yêu nước người Miên là Pucômbô chống Pháp quyết liệt từ 1866 đến 1868.
Võ Duy Dương đã hoạt động đánh Pháp cùng với Trương Định. Sau khi Trương Định hy sinh, ông trở thành người chỉ đạo chủ yếu trong phong trào chống Pháp ở vùng Tiền Giang, lấy Đồng Tháp làm căn cứ. Nghĩa quân ông ban đầu chủ yếu tiến hành những trận đánh du kích, đắp cản tại các cửa sông, giữ vững thế phòng ngự và làm tiêu hao lực lượng địch; về sau nghĩa quân bắt đầu mở rộng địa bàn và tổ chức nhiều trận đánh lớn vào các đồn bốt của địch ở Mỹ Trà, Cái Bè, Cái Thia, Cai Lậy, Mỹ Quý,… Cuộc khởi nghĩa phát triển đầy triển vọng, nhân dân các tỉnh miền Tây càng tích cực đóng góp lương thực và khí giới cho cuộc chiến. Tháng 4/1866, thực dân Pháp tiến hành cuộc tấn công quy mô vào căn cứ Thiên Hộ Dương. Tuy bị tổn thất lớn, nhưng quân Pháp đã lần lượt chiếm các đồn như đồn Sa Tiền, đồn Ấp Lý và đồn Gò Bắc. Địch bị thiệt hại lớn, khiến địch xin cầu viện để đánh tiếp đồn Tả. Trận đồn Tả ngày 16/4/1866, được xem là trận quyết liệt nhất. Võ Duy Dương trực tiếp chỉ huy trận này, nghĩa quân chiến đấu quyết liệt từ trưa đến chiều tối thì hết đạn phải tản về sau, quân giặc thừa thế xong lên và khi chiếm được đồn thì quân ta đã rút hết. Sau khi rút khỏi căn cứ Đồng Tháp Mười, Thiên Hộ Dương đem nghĩa quân phối hợp với con trai Trương Định là Trương Quyền và thủ lĩnh người Campuchia là A Soa tiếp tục đánh Pháp nhiều trận.
Trong buổi đầu của phong trào chống Pháp, khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực cho thấy sự tiếp nối tinh thần yêu nước của dân tộc. Ông đứng ra chiêu mộ nhân dân chống Pháp, tiến hành nhiều cuộc tiến công như trận phục kích trên sông Nhật Tảo, tấn công vào đồn Kiên Giang,… tính bất ngờ gây cho Pháp nhiều thiệt hại từ vật chất đến tinh thần. Mặc dù, Nguyễn Trung Trực hy sinh, cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng lịch sử và hậu thế mãi ghi nhớ lời tuyên ngôn bất hủ của ông: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì hết người Nam đánh Tây”.
Về cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân, ông từng tham gia khởi nghĩa từ những năm 1861 đến 1864, rồi bị đày đi Réunion. Được thả về ông cùng các văn thân, thân hào Nam Kỳ, kết hợp với người Hoa, người Khmer tiến hành khởi nghĩa vào năm 1875. Nghĩa quân tới 3.000 người, hoạt động trên địa bàn tỉnh Định Tường, tập trung vào vùng từ Tân An đến Mỹ Tho. Ông đặt bản doanh tại làng Long Trì, chiêu binh, vận động lính mã tà theo chính nghĩa. Nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt. Nghĩa quân đã từng đánh Mỹ Tho, nhưng không thành công; đến cuối cùng bị bắt và bị hành hình ở chợ Bến Tranh (Mỹ Tho)((Đoàn Minh Huấn – Nguyễn Ngọc Hà (2017), Vùng đất Nam Bộ, tập V, từ năm 1859 đến năm 1945, NXB. Chính trị Quốc gia, tr.63.)).
Ngoài những cuộc khởi nghĩa lớn còn nổ ra hàng loạt các cuộc khởi nghĩa với tinh thần nối tiếp truyền thống yêu nước của dân tộc như cuộc nổi dậy của binh lính người Việt, tù nhân và người dân ở Côn Đảo (6/1862); cuộc khởi nghĩa ở Cù Lao Minh thuộc Bến Tre; Khởi nghĩa của Ông Chưởng ở Sóc Trăng; cuộc khởi nghĩa ở Long Điền; cuộc khởi nghĩa của anh em Phan Tôn, Phan Liêm,…
Ở đồng bằng sông Cửu Long, dọc biên giới Việt Nam – Campuchia năm 1864 chúng ta thấy sự liên minh chống Pháp giữa Nguyễn Hữu Huân với một người Khmer tên là Thạch Bươm. Sách Định Tường Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân tiểu truyện chép: “Tháng giêng năm Giáp Tý, Tây lịch là 1864, hai người (Nguyễn Hữu Huân và Thiên Hộ Dương) hội hợp,, chiêu mộ nghĩa binh, được Thạch Bươm, người Khmer – có phép thuật, tập hợp các đạo quân dũng cảm quyết chiến dựng cờ khởi nghĩa. Lúc ấy tiếng tâm nghĩa quân lừng lẫy ở cả ba tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, thiên hạ (gồm đông đảo người Việt, Khmer, Chăm) biết tin hưởng ứng rất nhiều,…”((Dẫn theo Trần Đức Cường (2014), Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ (từ khởi thủy đến 1945), NXB. Khoa học Xã hội, tr. 372.)).
Năm 1867, tại vùng Ba Động, Cồn Cù có cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống thực dân Pháp của nghĩa quân Việt – Khmer do người Khmer có tên Lý Rọt và một người Việt tên Đề Triệu chỉ huy. Liên minh Lý Rọt và Đề Triệu hoạt động trên một vùng rộng lớn từ Ba Động – Cồn Cù tới Cầu Ngang, Tiểu Cầu, Trà Cú và một số xã thuộc huyện Càng Long, Vũng Liêm khiến thực dân Pháp không bình định được vùng này theo ý muốn((Dẫn theo Trần Đức Cường (2014), Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ (từ khởi thủy đến 1945), NXB. Khoa học Xã hội, tr. 372.)).
Trước thế về vũ lực, thực dân Pháp lần lượt đàn áp các phong trào dẫn đến dập tắc. Mặc dù, các phong trào đến cuối cùng đều thất bại nhưng các phong trào đã trở thành bằng chứng về ý chí kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam và góp phần viết nên những trang sử hào hùng trong lịch sử chống xâm lược của ngoại bang của nhân dân Nam Bộ nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung.
Tóm lại, với tinh thần chiến đấu và hiệu quả của nghĩa quân Trương Định có ảnh hưởng và ý nghĩa to lớn đối với phong trào chống Pháp của nhân dân Nam Bộ nói riêng cũng như cả nước nói chung. Bước chuyển mình lịch sử của cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo, khắp Nam Bộ và trong tòa quốc vang lên lời kêu gọi cứu nước((“Hịch kêu gọi nghĩa quân đánh Tây”, Thơ văn yếu nước Nam Bộ nữa sau thế kỷ XIX, tr.83.)):
“Bới các quân ơi!
Chớ thấy chín trùng hòa nghị, mà tấm lòng địch khái nỡ phôi pha,
Đừng rằng ba tỉnh giao hòa, mà cái việc cứu thù đừng bỏ dở”.
Với ý chí kiên cường của nghĩa quân Trương Định đã trở thành ngọn lửa thổi bùng lên tinh thần yêu nước, có sức cổ vũ mãnh liệt đối với toàn bộ phong trào chống Pháp đương thời, tạo thành một làn sống quật cường cuồn cuộn dâng lên khắp Nam Kỳ. Cho nên, Trương Định ngã xuống mà “sáu tỉnh còn roi dấu tướng quân”((Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thơ văn), Nguyễn Bá Thế, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1957.)), mà tinh thần và thành tích chiến đấu của nghĩa quân Trương Định “luôn luôn như tiếng trống trận vang trong lòng tất cả người Việt Nam yêu nước, không những của thế kỷ trước mà còn ở thế kỷ này và mãi mãi trong tương lai”((Ban Tuyên giáo và Ty Văn hóa Thông tin Tiền Giang – Trương Định, Thủ Khoa Huân,1976.)).
***
Cuộc chiến đấu anh dũng, kiên cường, bất khuất của nghĩa quân Trương Định những tháng cuối năm 1862 – đầu năm 1863 đã giáng một đoàn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp và đồng thời khẳng định ý thức tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam. Tác giả Poyen đánh giá chiến công nghĩa quân Trương Định như sau: “Người Việt Nam đã tỏ ra dày dạn chiến đấu, họ đã làm đảo lộn vai trò: giờ đây họ tấn công chúng ta ngay tại vị trí của chúng ta”((GS. Nguyễn Quang Lê – TS. Lê Hữu Phước, Khởi nghĩa Trương Định, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.143.)). Mặc dù khởi nghĩa không thành công, nhưng cuộc khởi nghĩa do Trương Định chỉ huy đã chứng tỏ lòng ái quốc của toàn dân, khả năng chiến đấu kiên cường của quần chúng.
Có thể thấy rằng, Trương Định hiểu sâu sắc lòng yêu nước của nhân dân và ý chí quật cường của nghĩa quân ông đã đánh tan mọi ràng buộc, biến nó trở thành sức mạnh, ra sức chống thực dân Pháp, gìn giữ từng mảnh đất của dân tộc. Đây được xem là bước ngoặt vĩ đại trong sự nghiệp cứu nước của ông, đưa cuộc khởi nghĩa lên một tầm cao mới, cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào khởi nghĩa trong cả nước và xứng đáng là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong buổi đầu đấu tranh chống thực dân.



