1. Bối cảnh hợp tác hai thập niên đầu thế kỷ XXI
Thế giới
Thế kỷ XXI, thế giới hướng tới quá trình ổn định, hợp tác và phát triển. Các quốc gia đang phát triển dần tham gia vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về nhiều lĩnh vực.
Xu thế toàn cầu hóa kinh tế ngày càng gia tăng và gắn liền với sự phát triển của khoa học và công nghệ. Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, bao trùm trên hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy quá trình hợp tác, vừa gia tăng sức ép cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Các mối quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia ngày càng phát triển và việc hình thành những công ty xuyên quốc gia, tập đoàn khổng lồ chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế.
Đối với khoa học và công nghệ trong giai đoạn này đã trở thành trọng tâm trong chính sách đối ngoại của các quốc gia, đòi hỏi các nước phải có những điều chỉnh chính sách đối ngoại nhằm tăng cường hợp tác liên kết cùng phát triển.
Mặt khác, bước vào thế kỷ XXI, môi trường chính trị và an ninh quốc tế ngày càng diễn biến phức tạp, trong đó nhất là chủ nghĩa khủng bố quốc tế, tiêu biểu là sự kiện ngày 11/09/2001 ở Mỹ, thật sự trở thành mối đe dọa đến an ninh thế giới. Vì lẽ đó, đòi hỏi các nước cần có những biện pháp phù hợp để bảo vệ lợi ích, an ninh cũng như không bị cô lập hoặc thiếu bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Và cả hai nước Việt Nam và Nhật Bản đều quan tâm đến việc tăng cường hợp tác, liên kết để đối phó và giải quyết những vấn đến mới trong giai đoạn này.
Khu vực
Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trở thành nơi có nền kinh tế phát triển năng động và trở thành một trong ba trung tâm của nền kinh tế thế giới. Đối với khu vực Đông Á, khu vực này đã trở thành khu vực hợp tác, liên kế và hội nhập. Đồng thời, trở thành khu vực có sức cạnh tranh sôi động, quyết liệt, với sự ra đời của APEC, Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), CPTPP, RCEP, FTA giữa ASEAN với một số nước và các FTA song phương.
Cũng trong giai đoạn này, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế, có sự phát triển vượt bậc về mọi mặt và có sự thay đổi, trong việc hướng tới các nước trong khu vực, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Đối với Việt Nam
Với những tiền đề đổi mới từ năm 1986, trong đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IX (2001) đã xác định: ưu tiên phát triển, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Với những thay đổi của tình hình và những xu thế phát triển trong thời kỳ mới đã tạo một môi trường thuận lợi cho sự phát triển hợp tác song phương.

2. Những thành tựu hợp tác về kinh tế
Hợp tác về thương mại
Năm 1999, Việt Nam quyết định đưa Nhật Bản vào danh sách các nước và vùng lãnh thổ được hưởng thuế suất tối huệ quốc. Tháng 4/2002, hai nước đã thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác tin cậy, ổn định lâu dài, cùng những hiệp định thương mại được ký kết đã tạo cơ sở chính trị và khung pháp lý cho cộng đồng doanh nghiệp hai nước hợp tác với nhau.
Từ đó, kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản có chuyển biến tích cực. Năm 2001, tăng lên đạt 4,724 tỷ USD (xuất khẩu là 2,438 tỷ USD và nhập khẩu là 2,509 tỷ USD) tăng 4,7% so với năm 2000 (4,871 tỷ USD). Sang năm 2003, đạt 5,9 tỷ USD (xuất khẩu là 2,909 tỷ USD và nhập khẩu là 2,993 tỷ USD) tăng 19,3% tổng kim ngạch xuất – nhập khẩu so với năm 2002 đạt 13%. Năm 2004, tổng kim ngạch xuất – nhập khẩu đạt 7,054 tỷ USD, năm 2005 đạt 8,5 tỷ USD, năm 2006 đạt 10 tỷ USD, năm 2007 đạt 12,25 tỷ USD và đạt mức 17 tỷ USD năm 2008((Nhiều tác giả (2014), Kỷ Yếu Hội Thảo Khoa Học – 40 Năm Quan Hệ Việt Nam Nhật Bản – Thành Quả Và Triển Vọng, NXB. Tổng hợp Tp. HCM, tr. 211 – 212.)).
Kim ngạch xuất – nhập khẩu giai đoạn 2006 – 2010, đạt 13.892,56 tỷ USD, tăng 2,24 lần giai đoạn trước (2001 – 2005)((Từ tháng 1 năm 2007, đàm phán chính thức về Hiệp định đối tác kinh tế Nhật – Việt (VJEPA) được khởi động.)) và chiếm 11% trong số 56 tỉ USD tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước. Trong đó, xuất khẩu đạt 6.771,86 triệu USD tăng 2,16 lần chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đạt 7.120,70 triệu USD tăng 2,32 lần chiếm 10% tổng kim ngạch nhập khẩu((Nguyễn Thị Thùy Chi (2014), Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản từ năm 2006 đến nay, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, tr. 32.)).
Năm 2012, tổng kim ngạch thương mại hai chiều là 24,7 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng 16%. Năm 2013, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 22,94 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu đạt 12,37 tỷ USD và nhập khẩu đạt 10,57 tỷ USD((TS. Nguyễn Thị Thúy (2019), Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trên lĩnh vực kinh tế những năm đầu thế kỷ XXI, 25/04, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/quoc-te/item/2812-quan-he-viet-nam-nhat-ban-tren-linh-vuc-kinh-te-nhung-nam-dau-the-ky-xxi.html.)).
Theo thống kế của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tổng kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản năm 2016 đạt 29,6 tỷ USD và tăng 4% so với năm 2015 (28 tỷ USD). Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tăng 3,9% so với năm 2015. Cụ thể, hàng dệt may đạt 2,9 tỷ USD, tăng 4,2%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 1,5 tỷ USD, tăng 10,9%; hàng thủy sản đạt 1,1 tỷ USD, tăng 6,2%; giầy dép các loại đạt 674,8 triệu USD, tăng 12,9%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 654 triệu USD, tăng 25,1% so với năm 2015((Phan Trang (2017), Kim ngạch thương mại Việt Nam-Nhật Bản tiếp tục tăng, 31/05, https://baochinhphu.vn/kim-ngach-thuong-mai-viet-nam-nhat-ban-tiep-tuc-tang-102221855.htm)).
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam – Nhật Bản phát triển theo chiều hướng tăng từ 33,7 tỷ USD năm 2017, lên 37,9 tỷ USD năm 2018 và năm 2019 là 39,9 tỷ USD. Đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu đạt là 39,6 tỷ USD và năm 2021 là 42,7 tỷ USD((Tổng cục Thống kê; Tổng cục Hải quan (2022), Dấu ấn quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản, https://infographics.vn/interactive-dau-an-quan-he-thuong-mai-viet-nam-nhat-ban/63812.vna)).
Có thể nói, thương mại giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản luôn tăng trưởng qua các năm. Cụ thể, ngay cả khi đại dịch, kim ngạch thương mại hai chiều vẫn đạt 42,7 tỷ USD, tăng 7,8% so với năm 2020 (39,6 tỷ USD); trong đó, xuất khẩu đạt 19,3 tỷ USD và nhập khẩu đạt 20,3 tỷ USD.
Về đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở Việt Nam (FDI)
Tính đến tháng 5/2002, Nhật Bản trở thành nước đứng thứ 3 trong các nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số 386 dự án được cấp phép, vốn đăng ký đạt 4,3 tỷ USD((Trần Anh Phương (2008), Để hợp tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản xứng tầm đối tác chiến lược, Tạp chí nghiên cứu Kinh tế, số 367.)) (tuy đứng thứ 3 về vốn đầu tư đăng ký nhưng Nhật Bản lại đứng đầu với vốn thực hiện, đạt 3,04 tỷ USD).
Từ năm 2002 đến năm 2008, nguồn vốn FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam tăng nhanh, từ 48 dự án với 102 triệu USD năm 2002 và tăng lên 131 dự án với 1.064 triệu USD năm 2005 (số dự án tăng gấp 3 lần và số vốn tăng gấp 10 lần)((Nguyễn Văn Tuấn (2022), Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam giai đoạn 2002 – 2018, Huế, Luận án Tiến Sĩ, tr. 77.)).
Ngày 01/07/2006, sau khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới ban của Việt Nam có hiệu lực và đồng thời việc Chính phủ hai nước thực hiện giai đoạn 3 của chương trình hành động “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản”; từ đó, đã tạo nên một làn sóng đầu tư sôi nổi từ Nhật Bản vào Việt Nam.
Cụ thể, năm 2006, đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam tăng với 146 dự án và tổng số vốn đạt 1.064,3 triệu USD. Năm 2007, với 154 dự án và tổng số vốn đầu tư là 965,2 triệu USD. Đến năm 2008, vốn đầu tư FDI từ Nhật Bản với 105 dự án và tổng vốn đầu tư đạt 7.287,51 (đến năm 2008, Nhật Bản trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ ba về số dự án và thứ tư về vốn đăng ký tại Việt Nam).
Bước sang năm 2009, do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, vì thế trong năm 2009, Nhật Bản chỉ đầu tư vào Việt Nam 102 dự án với tổng số vốn đầu tư đạt 715 triệu USD. Nhưng bước sang năm 2010, các dự án đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam tiếp tục tăng, cụ thể: có 144 dự án với tổng số vốn đầu tư đạt 2.400 triệu USD năm 2010, năm 2011 tăng lên 227 dự án với 2.430 triệu USD. Tiếp tục, trong 2 năm 2012 và năm 2013, Nhật Bản vươn lên đứng vị trí thứ nhất về tổng vốn đầu tư năm 2012 đạt 5.130 triệu USD và năm 2013 đạt 5.875 triệu USD với 416 dự án cấp mới và tăng thêm vốn((Nguyễn Văn Tuấn (2022), Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam giai đoạn 2002 – 2018, Huế, Luận án Tiến Sĩ, tr. 77,78.)).
Tuy nhiên, đến năm 2014 và 2015, vốn FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam có sự giảm sút. Theo JETRO, việc giảm sút là do nhu cầu tái thiết đất nước sau thảm họa 2011, cũng nhưng các chương trình cải cách kinh tế của Chính phủ trong việc đẩy mạnh đầu tư, phát triển kinh doanh trong nước. Cụ thể, năm 2014 đạt 2.299 triệu USD với 342 dự án và năm 2015 là 1.803 triệu USD với 319 dự án (năm 2013 đạt 5.875 triệu USD với 416 dự án cấp mới và tăng thêm vốn).
Sau hai năm suy giảm, năm 2016 đến 2018, vốn FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam tăng trở lại. Năm 2017, vốn FDI đạt 9.204 triệu USD với 397 dự án và năm 2018, đạt 8.944 triệu USD với 440 dự án cấp mới((Nguyễn Văn Tuấn (2022), Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam giai đoạn 2002 – 2018, Huế, Luận án Tiến Sĩ, tr. 79.)). Đến ngày 31/12/2018, Nhật Bản đứng thứ 2 trong tổng số 135 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam.
Năm 2019, với hơn 2000 doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư ở Việt Nam, “Tính lũy kế tình hình thu hút FDI đến cuối năm 2019, Nhật Bản đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký đạt 59,3 tỉ USD, chiếm 16,7%”((An Hiền (2020), Làn sóng đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam tăng không ngừng, Báo điện tử Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh, 09/09, https://plo.vn/lan-song-dau-tu-cua-nhat-ban-vao-viet-nam-tang-khong-ngung-post592454.html#:~:text=%22T%C3%ADnh%20l%C5%A9y%20k%E1%BA%BF%20t%C3%ACnh%20h%C3%ACnh,r%E1%BB%99ng%20s%E1%BA%A3n%20xu%E1%BA%A5t%20kinh%20doanh.)). Đến năm 2021, các nhà đầu tư Nhật Bản đã đầu tư 175 dự án mới với tổng vốn đăng ký hơn 3,9 tỷ USD, đứng thứ 3 chỉ sau Singapore và Hàn Quốc.
Về hình thức, FDI Nhật Bản vào Việt Nam thông qua bốn hình thức: 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp đồng BOT, BT, BTO và hợp đồng hợp tác kinh doanh. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2020, về cơ cấu cấu đầu tư trực tiếp đến tháng 12/2020 (theo Bảng 1)((Nguyễn Văn Hưởng (2022), Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay, Tạp chí nghiên cứu Tài chính Quốc tế, số 6 (227), tr. 86.)).
Bảng 1: Cơ cấu đầu tư trực tiếp theo hình thức đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam
(Tính lũy kế đến hết tháng 12 năm 2020)
Đơn vị: Triệu USD
| STT | Hình thức đầu tư | Số dự án | Tổng vốn đầu tư |
| 1 | 100% vốn nước ngoài | 3.916 | 35.841,62 |
| 2 | Liên doanh | 735 | 21.996,73 |
| 3 | 3 Hợp đồng BOT, BT, BTO | 3 | 3.374,25 |
| 4 | Hợp đồng hợp tác KD | 26 | 1.693,55 |
| Tổng | 4.68 | 62.906,16 |
Có thể thấy, trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI, nguồn vốn FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam đã có vai trò to lớn và góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam
Trong lĩnh vực viện trợ phát triển chính thức (ODA)
Nhật Bản luôn là nước hỗ trợ ODA tích cực cho Việt Nam, có xu hướng ngày càng tăng và có tầm quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước. Đại sứ Nhật Bản, ông Norio Hattori đã từng nói: “Nhật Bản sẽ tăng ODA cho Việt Nam, bởi Nhật Bản đánh giá cao quan hệ hợp tác với Việt Nam. Nhật Bản nhận thấy tiềm năng phát triển của Việt Nam. ODA Nhật Bản nhằm mục đích giúp đỡ các nước đang phát triển thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội, và Việt Nam thực sự xứng đáng để nhận nguồn vốn này”((Nhiều tác giả (2004), 30 năm quan hệ Việt Nam – Nhật Bản: kết quả và triển vọng, Nxb. Tổng hợp TP. HCM, tr. 354 – 355.)).
Năm 2001, Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam 91,6 tỷ Yên (740 triệu USD) chiếm 31% tổng số ODA các nước dành cho Việt Nam, năm 2002 khối lượng viện trợ là 92,4 tỷ Yên (757 tỷ USD), chiếm 30,3% so với các nước. Trong năm 2003 viện trợ phát triển ODA của Nhật Bản vẫn được duy trì với các nhà tài trợ đạt 797 triệu USD và vốn giải ngân đạt 336 triệu USD((Nhiều tác giả (2004), 30 năm quan hệ Việt Nam – Nhật Bản: kết quả và triển vọng, Nxb. Tổng hợp TP. HCM, tr. 337.)).
Đến năm 2005, Nhật Bản đã viện trợ cho Việt Nam đạt 100,9 tỷ yên, tăng 9% so với năm 2004 (92,6 tỷ yên)((Nhiều tác giả (2014), Kỷ Yếu Hội Thảo Khoa Học – 40 Năm Quan Hệ Việt Nam Nhật Bản – Thành Quả Và Triển Vọng, NXB. Tổng hợp Tp. HCM, tr. 216.)). Năm 2006, đạt 103,9 tỷ Yên, năm 2007 là 123,2 tỷ yên((Ngọc Trịnh (08/2008), 35 năm quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản: Một chặng đường phát triển, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 8, tr. 15.)). Năm 2009, viện trợ ODA cho Việt Nam đã đạt 3,28 tỷ yên viện trợ không hoàn lại, khoản vay đạt 145,86 tỷ yên và hợp tác kỹ thuật là 5 tỷ yên((Thu Hiền (2015), Viện trợ ODA của Nhật Bản vào Việt Nam từ năm 1992 đến nay, 02/10, https://vietnhatnews.wordpress.com/2015/10/02/vien-tro-oda-cua-nhat-ban-vao-viet-nam-tu-1992-toi-nay/)).
Bảng 2. ODA Nhật Bản cho Việt Nam (2010-2020)((Nguyễn Thị Thanh Lam (2021), “Nguồn vốn ODA Nhật Bản vào Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 và triển vọng”, 01/08, Tạp chí Công thương, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/nguon-von-oda-nhat-ban-vao-viet-nam-giai-doan-2010-2020-va-trien-vong-82705.htm))
Đơn vị: triệu USD
| NĂM | Tổng ODA và vốn vay ưu đãi | Viện trợ | Vay ưu đãi | Vốn vay ODA |
| 2010 | 3607,18 | 172,06 | 210 | 3225,12 |
| 2011 | 6910,42 | 194,85 | 6715,57 | |
| 2012 | 5938,27 | 437,17 | 100 | 5401,1 |
| 2013 | 6853,83 | 390,88 | 410 | 6042,95 |
| 2014 | 4450,78 | 224,99 | 4225,79 | |
| 2015 | 3972,15 | 58,07 | 536,31 | 4978,89 |
| 2016 | 5555,574 | 40,374 | 536,31 | 4978,89 |
| 2017 | 3640,09 | 0,09 | 3640 | |
| 2018 | 2001,1 | 2001,1 | ||
| 2019 | 463 | 463 |
Qua bảng 2 cho thấy, từ năm 2010 đến năm 2019, tổng số vốn ODA từ Nhật Bản vào Việt Nam có chiều hướng tăng, cụ thể: tăng từ 3607,18 triệu USD năm 2010 và đạt 5555,574 triệu USD năm 2016 (tăng hơn 1,5 lần). Trong khi đó, khoảng viên trợ tăng mạnh nhất là 437,17 triệu USD năm 2012, tăng 2,24 lần so với năm 2011 (194,84 triệu USD). Từ năm 2016 tới năm 2019, vốn ODA từ Nhật Bản có chiều hướng tăng, cụ thể: từ 5555,574 triệu USD năm 2016 xuống còn 463 triệu USD năm 2019.
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) Việt Nam cho biết, từ tháng 04/2019 đến tháng 31/03/2020, có 28 dự án vốn vay ODA được triển khai tại Việt Nam, không ký kết Hiệp định vay vốn mới nào. Tổng giá trị vốn vay đã giải ngân (Gross) khoảng 37,5 tỷ yên((Tường Lam (2020), JICA hỗ trợ Việt Nam giải ngân vốn ODA khoảng 37,5 tỷ yên, 04/06, https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/jica-ho-tro-viet-nam-giai-ngan-von-odakhoang-37-5-ty-yen-1491866004)).
Từ tháng 4/2021 đến hết tháng 3/2022, theo báo cáo các số liệu thành tích hoạt động của JICA Việt Nam trong năm tài chính 2021 của Nhật Bản, bao gồm: Khoản vay cam kết trong dự án vốn vay ODA là 10,8 tỷ yên (tương đương 75 triệu USD), Dự án Hợp tác kỹ thuật là 4,9 tỷ yên (tương đương 34 triệu USD), Viện trợ không hoàn lại là 700 triệu yên (tương đương 5 triệu USD) và hơn 100 dự án lớn nhỏ2.
Một số nhóm dự án từ nguồn vốn ODA Nhật Bản có thể kể đến như Dự án phát triển hạ tầng điện lực và sử dụng hiệu quả năng lượng; Dự án tăng cường mạng lưới giao thông vận tải; Dự án hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường năng lực cho cơ quan hành chính, tài chính tại Việt Nam; Dự án phát triển nền kinh tế thị trường và mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài; Dự án cải thiện đời sống và sức khỏe của người dân và Dự án thu hẹp khoảng cách giàu nghèo thông qua phát triển nông nghiệp và địa phương.
ODA Nhật Bản được sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau phù hợp cho từng giai đoạn khác nhau. Từ năm 2004, nguồn ODA của Nhật Bản hướng tới ba mục tiêu chính: thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện đời sống – xã hội và hoàn thiện thể chế. Đến năm 2015, các chương trình viện trợ của Nhật Bản nhằm vào 5 lĩnh vực chính: phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế; xây dựng và cải tạo các công trình giao thông và điện lực; phát triển nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phát triển giáo dục đào tạo và y tế; bảo vệ môi trường. Đến năm 2020, bao gồm ba lĩnh vực trọng tâm: xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và xử lý và tái cơ cấu các công ty nhà nước.
Có thể thấy, ODA của Nhật Bản đã góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các chương trình phát triển kinh tế.
3. Thay lời kết
Quan hệ hai nước ngày càng thắt chặt và toàn diện thông quá quá trình hợp tác về thương mại, vấn đề về đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam (FDI) và lĩnh vực viện trợ phát triển chính thức (ODA). Cùng với sự phát triển trong hợp tác kinh tế, cả hai nước còn hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác: hợp tác an ninh – quốc phòng, chính trị, giáo dục, văn hóa,…
Có thể nói, quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trong thời gian qua, đặc biệt là lĩnh vực hợp tác kinh tế đã có nhiều chuyển biến mạnh trong 20 năm đầu thế kỷ XXI. Nhật Bản không chỉ là đối tác chiến lược sâu rộng mà còn là người bạn, đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế giữa hai nước.

- Nguyễn Thị Thùy Chi (2014), Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản từ 2006 đến nay, Hà Nội, Luận án Thạc sĩ, tr. 42. [↩]
- Trà My (2022), ODA tiếp tục đóng vai trò quan trọng cho tăng trưởng của Việt Nam, 12/10, https://nhandan.vn/oda-tiep-tuc-dong-vai-tro-quan-trong-cho-tang-truong-cua-viet-nam-post719618.html [↩]



