CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH VĨNH LONG NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX (1802 – 1858)

15/04/2022
Lê Thanh Đằng, Lê Thành Trung

Tóm tắt

Vĩnh Long hơn 300 năm, từ đơn vị hành chính Long Hồ dinh (1732) và sau đó với nhiều thay đổi cùng với những nét chấm phá thăng trầm của lịch sử đã dần  định hình một cách hoàn chỉnh với tên gọi Vĩnh Long được phân hạt vào năm 1832, dưới triều vua Minh Mạng. Đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn đã tái lập nền thống nhất, cùng với những ưu thế về địa lý, đặc điểm tự nhiên của vùng đất, vì thế nền kinh tế Vĩnh Long ngày càng được khởi sắc. Với sự quan tâm của triều Nguyễn, cơ cấu kinh tế của tỉnh Vĩnh Long từng bước phát triển qua các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Bài viết này nhằm làm rõ sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX, qua đó có cái nhìn tổng quan hơn về bức tranh kinh tế Vĩnh Long giai đoạn này.

Toàn văn

1. Sơ nét kinh tế tỉnh Vĩnh Long trước thế kỷ XIX.

Vĩnh Long là tỉnh có quá trình hình thành khá sớm so với các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Sách Đại Nam Nhất thống chí viết: “Xưa là đất Tầm Bào. Bắt đầu bản triều kinh lí phương Nam, đặt phủ Gia Định, mộ dân đến ở, lại lập trang trại, man nâu để có thống thuộc. Năm Nhâm Tí (1732) Túc Tông thứ 7, thấy địa thế Gia Định rộng rãi, bèn chia đất tây nam dinh Phiên Trấn đặt châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ”((Quốc sử Quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Nhất thống chí tập 5, NXB. Thuận Hóa, Huế, tr. 141.)).

Theo Trịnh Hoài Đức, đến năm Kỷ Hợi – Thế Tổ Cao Hoàng đế năm thứ 2 (1779) lỵ sở dinh Long Hồ dời về châu Hoằng Trấn và đổi tên là dinh Hoằng Trấn((Trịnh Hoài Đức (2019), Gia Định Thành thông chí, NXB. Saigon Book – NXB Tổng hợp TP.HCM, tr.114.)). Năm Giáp Tý (1804) đổi thành dinh Vĩnh Trấn; năm 1808 cải làm trấn Vĩnh Thanh và đến năm 1832, phân hạt gọi là tỉnh Vĩnh Long((Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Vĩnh Long, NXB. TP.HCM, tr. 80.)).

Vĩnh Long có đại hình tương đối bằng phẳng; địa hình lòng chảo, cao dần về phía hai bên bờ sông Tiền và sông Hậu; tiến ra biển phía Trà Vinh nơi có nhiều giồng đất, giồng cát. Vĩnh Long có hệ thống sông ngòi chằng chịt, đan xen lẫn nhau và lưu thông từ sông này đến rạch kia đều thuận lợi.

 Đất đai màu mỡ, phù sa đã bồi đắp nên những cồn nổi giữa tạo nên các dãy cù lao lớn như Cù lao Minh, Cù lao Dài trên sông Tiền; Cù Lao Mây trên sông Hậu. Sách Đại Nam Nhất thống chí viết: “Đồng nội màu mỡ, toàn ruộng vườn xanh tốt dân nhờ”((Quốc sử Quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Nhất thống chí tập 5, NXB. Thuận Hóa, Huế, tr. 148.)).

Vĩnh Long nơi có nước ngọt quanh năm, có phù sa sông bồi đắp và có ưu thế của một vùng đất mở về địa hình rất thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp và sinh hoạt của con người. Do đó, Vĩnh Long từ sớm đã trở thành nơi cư trú của những đoàn lưu dân từ cuối thế kỷ XVI.

Tại đây, người Việt, người Hoa, người Khmer cùng làm ăn, sinh sống. Người Khmer có từ rất sớm, họ sống và sinh hoạt trên các giồng đất cao với những hoạt động khai hoang và chống thú dữ, nhưng số dân còn quá ít và quá trình khẩn hoang của họ diễn ra rất chậm. Người Việt đa số là những lưu dân ở vùng đất Thuận Quảng của chúa Nguyễn, họ thực hiện việc khai phá đất bưng để canh tác lúa nước, trồng cây ngắn ngày và lập nên những chòm xóm người Việt đầu tiên ở vùng đất mới((Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2010), Quá trình khai phá và lập làng ở Vĩnh Long từ 1732 – 1836, Luận văn Thạc sĩ, tr. 32.)).

Người Hoa đến đây muộn hơn người Việt (nửa sau thế kỷ XVII), họ làm vườn, làm rẫy, cùng với các hoạt động buôn bán và nghề thủ công truyền thống. Họ thường cư trú thành từng cụm xen lẫn với người Việt.

Từ khi mới thành lập với tên dinh Long Hồ, vùng đất này luôn có vị trí quan trọng; là khu vực trung tâm của vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long và là khu vực nổi tiếng về sự trù phú lúa và cây trái, có khả năng cung cấp lương thực – thực phẩm cho khu vực và cả nước.

Dinh Long hồ thời kỳ chủ yếu là khai hoang, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vị trí trung tâm trong hoạt động kinh tế. Đất đai khai phá được chia làm hai loại với hai phương thức canh tác là sơn điền và thảo điền. Trong nông nghiệp, trồng trọt đóng vai trò chủ đạo, chủ yếu là trồng lúa.

Sản lượng lúa của Long Hồ vào thời kỳ này không những phục vụ cho nhu cầu tại chỗ mà còn cung cấp cho miền Trung và đưa vào kho dự trữ của quốc gia hoặc trở thành hàng hóa trao đổi với các nơi khác((Ban Tuyên giáo Tỉnh Ủy Vĩnh Long (2002), Lịch sử tỉnh Vĩnh Long (1732 – 2000), NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 40.)). Nhiều bến ghe thuyền phát triển thành những tựu điểm buôn bán lúa gạo, đồng thời thu hút nhiều mặt hàng nông sản và thủ công nghiệp.

Dưới thời các chúa Nguyễn, các cộng đồng dân cư người Việt, người Khmer và người Hoa đã làm các nghề thủ công phục vụ cho sản xuất và cho sinh hoạt như đan lát, các nghề mộc, rèn,…((Tỉnh Ủy – Ủy Ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2017), Địa chí Vĩnh Long tập 1, NXB. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr. 318.)).

Dinh Long Hồ thời kỳ này từ năm 1758 – 1771, hoạt động kinh tế chủ yếu là buôn bán, trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển; dân số Long Hồ tiếp tục tăng. Cuối thế kỷ XVIII, dinh Long Hồ đã tập trung được nhiều thế mạnh: đất đai màu mỡ, tổ chức quản lý hành chính được kiện toàn, nguồn lao động được bổ sung,… Do vậy, việc khai khẩn đất hoang ngày càng mở rộng, các hoạt động sinh hoạt vật chất và tinh thần của cư dân ngày thêm phong phú.

2. Tình hình cơ cấu kinh tế vùng đất Vĩnh Long nửa đầu thế kỉ XIX.

Với vị thế nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, lại nằm giữa hai con sông lớn  sông Tiền và sông Hậu là cửa ngõ thông thương, thuận lợi nối ra biển. Thêm vào đó là vùng đất mở về địa hình rất thuận lợi cho phát triển kinh tế của Vĩnh Long trong nửa đầu thế kỷ XIX. Sau những biến động thăng trầm của lịch sử, khi Nguyễn Ánh lên nắm chính quyền, Vĩnh Long ngày càng có điều kiện phát triển hơn qua các chính sách cũng như sự quan tâm của  triều đình nhà Nguyễn cụ thể như các lĩnh vực sau:

* Về nông nghiệp

Sau khi Gia Long lên ngôi tiếp tục tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước, tiếp tục ban các chỉ dụ về việc  khai khẩn đất hoang cho việc phát triển nông nghiệp, Trong đó có chỉ dụ năm 1802 có đoạn “Người nào không có điền sản thì đem ruộng hoang cấp cho và cho vay thóc giống đến khi thu hoạch xong sẽ trả lại cho nhà nước”((Quốc sử quán triều Nguyễn (1973), Đại Nam thực lục, tập II,  NXB. Khoa học Xã hội ,tr 9.)).

Việc khai hoang lập đồn điền tiếp tục được đẩy mạnh, châu Định Viễn được xem là nơi trọng điểm cho việc thiết lập đồn điền, việc tận dụng người cư dân trong đồn điền vừa là nông dân, vừa là binh lính với phương châm “Động vi binh, tĩnh vi dân” mang đến lợi ích khá lớn cho việc phát triển nông nghiệp. Kết quả của việc di dân khai hoang, lập ấp và việc tăng dân góp phần làm cho trấn Vĩnh Thanh ngày càng trở nên sầm uất.

Diện tích canh tác các lọai cây trồng tăng lên nhanh chóng, ngày càng được mở rộng. Theo Đại Nam nhất thống chí thì tổng diện tích đất ở Nam Kỳ Lục tỉnh thời Minh Mạng là 568.840 mẫu trong đó riêng Vĩnh Long 139.936 mẫu chiếm 24%, sản lượng lúa ngày càng tăng góp phần thúc đẩy cho việc buôn bán và lưu trữ lúa((Trần Thị Mỹ Hạnh, Tình hình Kinh tế Vĩnh Long trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Nghiên cứu Lịch sử, số 2.2001.)). Thành tựu khai hoang, lập ấp là làm cho diện tích canh tác được mở rộng, lúa vẫn là cây trồng chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra còn có các loại cây trồng khác và hoa màu tăng lên đáng kể so hơn trước, cơ cấu cây trồng được xác định với hai loại hình là canh điền và canh viên.

Cây ăn quả, khoai đậu, cau… được trồng khá nhiều. Theo ghi chép của Gia Định Thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí thì nơi trồng cau rất nhiều và nổi tiếng ở Nam Bộ  là Mỹ Lòng (Vĩnh Long), Cái Bè (Tiền Giang). Cây ăn quả như: cam, chuối, quýt, bưởi, chanh, mãng cầu, măng cụt… với nhiều loại giống khác nhau((Trần Thị Mỹ Hạnh, Tình hình Kinh tế Vĩnh Long trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Nghiên cứu Lịch sử, số 2.2001.)).

* Về thủ công nghiệp.

Trên cơ sở nền nông nghiệp trồng lúa, cây hoa màu và cây ăn quả khá phát triển, điều đó dẫn đến nông thôn ở Vĩnh Long bắt đầu có sự  phân công lao động, nhiều ngành nghề thủ công ra đời như: mộc, rèn, đóng ghe thuyền, gạch ngói… dần dần có tính chuyên nghiệp và bắt đầu tách khỏi nông nghiệp, đa số các khu làng xóm ở đây đều có các hoạt động đan lát, dệt chiếu, rèn…còn có nơi phát triển nghề quay tơ, kéo sợi, dệt vải.

Ngoài ra nhà nước cũng tạo nhiều điều kiện để phát triển ngành thủ công nghiệp địa phương, tổ chức phát triển kinh tế thủ công của Vĩnh Long vẫn mang tính chất hộ gia đình, đa số các hoạt động kinh tế, không có xưởng riêng biệt mà hoạt động sản xuất  chủ yếu ở hộ gia đình, nhà ở là nơi làm việc, người thân trong gia đình là các thợ của xưởng tùy theo độ tuổi, sức lực và khả năng làm việc, đa số các nghề thủ công ở đây theo hộ gia đình, ít vốn và chủ yếu cần kinh nghiệm, sản phẩm làm ra cũng không kém phần tinh tế và sắc sảo đủ đáp ứng nhu cầu của cư dân địa phương, khu vực. Nguyên liệu dùng để sản xuất rất thô sơ và hầu như chỉ dựa vào sức người. Tại khu Tam Đảo thuộc trấn Vĩnh Thanh đã xuất hiện những cụm sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, tạo nên những điểm dân cư có tên gọi theo nghề nghiệp như xóm Lò Rèn, xóm Bún, xóm Chài…((Trần Thị Mỹ Hạnh, Tình hình Kinh tế Vĩnh Long trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Nghiên cứu Lịch sử, số 2.2001.)).

*  Về thương nghiệp.

Cùng với sự phát triển sản xuất của nông nghiệp và thủ công nghiệp, hoạt động thương nghiệp của Vĩnh Long cũng ngày càng phát triển hơn trước. Hoạt động buôn bán diễn ra khá nhộn nhịp, hệ thống chợ địa phương được mở rộng về số lượng và cả về quy mô. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí Lục tỉnh Nam Việt thì Nam Kỳ Lục Tỉnh có tất cả 93 chợ, trong đó Vĩnh Long có 19 chợ (bao gồm Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh hiện nay)((Dẫn theo, Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2010), Quá trình khai phá và lập làng ở Vĩnh Long từ 1732 – 1836, Luận văn Thạc sĩ, tr. 64.)).

Chợ ở Vĩnh Long là nơi trao đổi, buôn bán không chỉ người Việt, người Hoa, người Khmer, mà còn là nơi các thương buôn những nơi khác đến mua bán trao đổi. Lúc bấy giờ, bên cạnh thương nhân Việt, đội ngũ thương nhân người Hoa đóng vai trò quan trọng, việc buôn bán được mở rộng sang các nước khu vực như Cao Miên, Xiêm, Trung Quốc, Malayxia,… Các thương nhân thường bán các sản phẩm nông, hải sản, đồ thủ công và mua về các sản phẩm như “vải lụa, đồ sành sứ, các loại thuốc và dược liệu”((Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long, Tìm hiểu về văn hóa tỉnh Vĩnh Long (1732 – 2000),tr. 107,104. Dẫn theo, Tỉnh Ủy – Ủy Ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2017), Địa chí Vĩnh Long tập 1, NXB. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr. 34.)).

Do đó, chợ Vĩnh Long bấy giờ có đủ các món hàng, trong đó chợ Long Hồ là trung tâm buôn bán quan trọng và bậc nhất ở địa phương. Dưới thời Minh Mạng, hoạt động thương mại Vĩnh Long phát triển hơn trước, ba sở thuế của Vĩnh Long được đặt tại Long Hồ, Thiện Mỹ và Hàm Long. Trong đó, sở thuế Long Hồ được số thuế cao nhất so với sở thuế trên vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ đứng sau Gia Định. Năm 1931, các sở thuế trên đã thu được 9.300 quan (sở thuế Long Hồ thu được 4.900 quan, sở thuế Thiện Mỹ thu được 2.500 quan, sở thuế Hàm Long thu được 1.900 quan)((Ban Tuyên giáo Tỉnh Ủy Vĩnh Long (2002), Lịch sử tỉnh Vĩnh Long (1732 – 2000), NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 62.)).

Hoạt động của các chợ này không đơn thuần là nơi trao đổi buôn bán mà còn xuất hiện nhiều nghề khác như lò rèn, quán nước, quán trọ cho khách buôn,… Những tin tức xa gần, những câu chuyện về đất, về người cứ theo phiên chợ mà lan tỏa. Các chợ vừa là trung tâm kinh tế và đồng thời là tựu điểm văn hóa. Có thể thấy, chợ đã trở thành nhu cầu thiết yếu của cư dân Vĩnh Long thời bấy giờ.

Di tích Cây Đa cửa hữu của thành Long Hồ tạo lạc tại phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (Nguồn: Internet)

3. Tác động của sự phát triển kinh tế đến các mặt của Vĩnh Long nửa đầu thế kỷ XIX.

  Với sự cần cù, miệt mài của người dân, với sự quan tâm cùng các chính sách quan tâm của triều đình phong kiến đã góp phần thay đổi không nhỏ diện mạo của nền kinh tế Vĩnh Long. Sự thay đổi đó biểu hiện thông qua nền kinh tế phát triển, nó đã tác động không nhỏ đến nhiều mặt khác của đời sống nhân dân dưới nhiều góc độ khác nhau ở Vĩnh Long trong nửa đầu thế kỷ XIX.

 Góp phần định cư ổn định: Kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đã đảm bảo được cho người dân có cuộc sống ấm no tránh việc thiếu lương thực. Các mặt hàng tiêu dùng khá phong phú, đa dạng về chủng loại và có chất lượng khá cao góp phần nâng cao cuộc sống người dân.

Đảm bảo được mặt trị an – quốc phòng: Việc kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống nâng cao, đời sống nhân dân ổn định, sẽ đảm bảo được mặt yên dân  cũng như ít các cuộc nổi loạn trong quần chúng diễn ra và trong việc chống ngoại xâm cũng được đẩy lùi .

Thu ngân nhà nước tăng, ngân khố giàu mạnh: Kinh tế phát triển cũng tất yếu dẫn đến người dân có khả năng đóng thuế nhiều cho nhà nước. Như việc khai hoang tăng diện tích canh tác nông nghiệp thì đóng thuế nhiều, thương nghiệp phát triển thì nhà nước thu thuế ở cả trên bộ lẫn thủy hoặc các chợ .

Ngoài những thuận lợi từ yếu tố phát triển kinh tế lúc bấy giờ cũng đặt ra nhiều thách thức cho Vĩnh Long về yếu tố quản lý và quan lại. Cụ thể Diện tích khai hoang tăng đồng nghĩa với việc chính quyền sở tại phải quản lý một lượng lớn ruộng đất cũng như công tác đo đạc, thu thuế, chuyển nhượng, thưa kiện về đất đai… Bên cạnh đó, công tác quản lý nhân khẩu, bắt lính cũng là một thách thức với chính quyền sở tại. Dân số tăng, diện tích đất canh tác ngày càng nhiều, nhu cầu tách huyện, nâng tổng thành huyện là tất nhiên. Do vậy, việc chia tách các đơn vị hành chính đồng nghĩa với việc phải bố trí bổ nhiệm thêm, tăng biên chế đội ngũ quan lại. Đồng thời phải bố trí đội ngũ quan lại có kinh nghiệm trong việc quản lý trật tự trị an cũng như am hiểu tình hình địa phương mình quản lý từ đó đề ra các chính sách phù hợp góp phần thúc đẩy nền kinh tế tiếp tục phát triển.

***

Tóm lại, có thể nói từ năm 1732 dinh Long Hồ được thành lập cũng đã chính thức hợp pháp hóa chủ quyền của các chúa Nguyễn đối với vùng đất Long Hồ dinh. Bằng óc sáng tạo và sự cần cù lao động, không quản ngại gian khổ của các lưu dân người Việt, họ đã biến Long Hồ dinh (Vĩnh Long) nơi này từ một vùng đất hoang vu, cây rừng rậm rạp trở thành một vùng đất phì nhiêu của nền nông nghiệp. Vĩnh Long đã sớm trở thành vựa lúa của khu vực Nam bộ lúc bấy giờ, kéo theo đó là hoạt động thủ công nghiệp, thương nghiệp ngày càng phát triển mạnh mẽ. Không chỉ dừng lại ở đó, với thế mạnh về nông nghiệp của mình, vùng đất Vĩnh Long  đã sớm biết phát huy tốt vai trò là vị trí trung tâm, là cầu nối để gắn kết kinh tế các vùng kinh tế quan trọng như Mỹ Tho và Hà Tiên tạo nên những mắt xích quan trọng trong mạng lưới mậu dịch tấp nập và sôi nổi ở Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX.

Với những ưu thế đó, Vĩnh Long ngày nay trở thành tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của khu vực Tây Nam Bộ. Trong giai đoạn 2016 – 2020, tỉnh Vĩnh Long huy động trên 65.600 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển[17]. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tính năm 2019 tăng 6,22% so với năm 2018, trong đó khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 2%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,54%, khu vực dịch vụ tăng 6,8; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,04%[18].

Với những thành tựu đó, có thể thấy rằng Vĩnh Long đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy nền kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung ngay từ nửa đầu thế kỷ XIX cho đến nay. Do vậy, dưới triều Nguyễn có thể ví von vùng đất Vĩnh Long tựa như “cầu nối và đòn gánh kinh tế” của Đồng bằng sông Cửu Long.

Tài liệu tham khảo

1.Quốc sử Quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Nhất thống chí tập 5, NXB. Thuận Hóa, Huế.
2.Trịnh Hoài Đức (2019), Gia Định Thành thông chí, NXB. Saigon Book – NXB Tổng hợp TP.HCM.
3.Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Vĩnh Long, NXB. TP.HCM.
4.Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2010), Quá trình khai phá và lập làng ở Vĩnh Long từ 1732 – 1836, Luận văn Thạc sĩ.
5.Ban Tuyên giáo Tỉnh Ủy Vĩnh Long (2002), Lịch sử tỉnh Vĩnh Long (1732 – 2000), NXB. Chính trị Quốc gia.
6.Tỉnh Ủy - Ủy Ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2017), Địa chí Vĩnh Long tập 1, NXB. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội.
7.Trần Thị Mỹ Hạnh, Tình hình Kinh tế Vĩnh Long trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Nghiên cứu Lịch sử, số 2.2001.

Trích dẫn

[fme_show_footnotes]

Trích nguồn

#tags:
Facebook
Email

There are no reviews yet. Be the first one to write one.