LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH ĐỒNG NAI TRONG CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ NĂM 1972

28/12/2022
Lê Thành Trung

Tóm tắt

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) lực lượng vũ trang tỉnh Đồng Nai đã tiến hành một cuộc chiến tranh trường kỳ, gian khổ vì độc lập – tự do. Chiến dịch Nguyễn Huệ (năm 1972) là một cột mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành, phát triển của lực lượng vũ trang tinh. Cùng với bộ đội chủ lực Miền, lực lượng vũ trang Biên Hòa – Đồng Nai đã đẩy mạnh thế trận chiến tranh nhân dân, liên tục tiến công địch, giải phóng nhiều địa bàn quan trọng, góp phần cùng quân và dân B2 kết thúc thắng lợi đợt tiến công chiến lược năm 1972 nói chung, Chiến dịch Nguyễn Huệ nói riêng.

Toàn văn

1. Bối cảnh lịch sử

Từ giữa năm 1971, sau những thất bại nặng nề ở mặt trận Đường 9 – Nam Lào và Campuchia, lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa ngày càng suy yếu, giảm sút về số lượng, sa sút về tinh thần; buộc phải dàn mỏng lực lượng trong bố trí chiến lược trên toàn chiến trường. Đồng thời, chuyển từ phòng tuyến xa ngoài biên giới sang phòng ngự nội địa như phòng ngự các tuyến dọc biên giới Việt Nam – Campuchia, tuyến Trị Thiên và tuyến Đường số 9.

Mặt khác, do cắt giảm viện trợ, tình hình kinh tế, tài chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa lâm vào tình trạng khủng hoảng và chính kế hoạch tập trung phòng thủ vòng ngoài, đã dẫn đến bị sơ hở bên trong, trong khi quân số bị giảm, hỏa lực chi viện cho chiến trường giảm lớn, đặc biệt là không quân.

Trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chương trình “bình định” của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa được xem là một mặt trận quan trọng; nhưng thời điểm này, ở một số khu vực chương trình bình định đang bị chựng lại và ngày càng bị đẩy lùi. Trong giai đoạn từ tháng 3/1971 đến đầu năm 1972, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện kế hoạch “cộng đồng tự vệ và phát triển địa phương”, nhưng chỉ đạt 45% dự kiến. Số ấp chiến lược do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát năm 1971 giảm 2000 ấp so với năm 1971((Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên) (2017), Lịch sử Việt Nam từ năm 1965 – 1975, tập 13, Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 340.)).

Từ sau Tết Mậu Thân năm 1968, trên thế giới và ngay tại nước Mỹ, phong trào phản chiến phát triển mạnh mẽ và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ ngày càng dân lên. Cụ thể, báo chí công bố hồ sơ tài liệu mật Lầu Năm Góc vạch trần sự lừa dối đối với nhân dân Mỹ về chiến tranh Việt Nam của các đời Tổng thống. Nhiều nghị sĩ Quốc hội Mỹ đã lên tiếng chỉ trích, phê phán gay gắt Tổng thống Mỹ và phe hiếu chiến. Tháng 6/1971, Hạ nghị viện Mỹ lần đầu tiên bỏ phiếu hủy bỏ “chính sách Việt Nam của chính quyền” bằng luật. Ngày 22/6/1971, Thượng nghị sĩ Menphim yêu cầu Tổng thống rút toàn bộ quân Mỹ ở Việt Nam trong vòng 9 tháng nếu Hà Nội đồng ý thả tù binh Mỹ.

Đến thời điểm này, những bế tắc đã bắt đầu hiện rõ trên chiến trường Việt Nam, sự chia rẽ trong giới cầm quyền và nội bộ nước Mỹ đã dẫn đến nhiều bất lợi đối với chiến lược toàn cầu của Mỹ.

Trước tình hình đó, Níchxơn thực hiện chính sách ngoại giao xảo quyệt, chia rẽ các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Trung Quốc và Liên Xô. Những tính toán ngoại giao bước đầu đạt kết quả nhất định, cho đến năm 1971, các nước phe xã hội chủ nghĩa đều thống nhất ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Trong đó, Liên Xô và Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam hàng chục ngàn tấn vũ khí, khí tài và hàng trăm vạn tấn lương thực, thực phẩm và thuốc chữa bệnh, góp phần làm tăng tiềm lực quân sự và sức mạnh cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Về phía Việt Nam, đến năm 1971, lực lượng các mạng của Việt Nam tại chiến trường Lào và Campuchia đã mạnh hơn về thế và lực; với 71 sư đoàn và 19 trung đoàn chủ lực cơ động, 95 tiểu đoàn, 350 đại đội, 185 trung đội địa phương và hàng chục vạn du kích. Miền Bắc Việt Nam đã đưa tới chiến trường miền Nam 46.591 tấn vật chất, trang bị kỹ thuật và tăng cường 50.000 thanh niên cho chiến trường((Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên) (2017), Lịch sử Việt Nam từ năm 1965 – 1975, tập 13, Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 342.)). Mặt khác, các vùng căn cứ địa tiếp tục được mở rộng, nối liền từ miền Bắc xuống miền Nam của Việt Nam, tại chiến trường Lào và Campuchia cũng được cũng cố.  

Trên địa bàn Biên Hòa – Đồng Nai, từ tháng 5 – 1971, Phân khu 5 và tỉnh U1 sáp nhập thành Phân khu Thủ Biên (huyện Vĩnh Cửu và Trảng Bom nhập lại thành Vĩnh Cửu; Phân khu Bà Rịa – Long Khánh gồm 3 thị xã: Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu và 8 huyện (Xuân Lộc, Cao Su, Long Thành, Thủ Đức, Châu Đức, Long Đất, Duyên Hải và Xuyên Mộc).

 Trong đó, lực lượng vũ trang Phân khu Thủ Biên có tiểu đoàn Phú Lợi, 1 đội biệt động, 1 tiểu đoàn pháo binh, hai tiểu đoàn đặc công của U1 cũ và các đại đội huyện; lực lượng của Phân khu Bà Rịa có Trung đoàn 33, trung đoàn 4, tiểu đoàn 6 đặc công trực thuộc Phân khu Bà Rịa. Trung đoàn pháo 274 của Miền, mỗi phân khu 1 tiểu đoàn; 1 tiểu đoàn khác được bổ sung cho các đơn vị pháo ở các trung đoàn.

Lực lượng vũ trang Phân khu đứng chân ở Khu A (chiến khu Đ). Thị ủy, Thị đội Biên Hòa, Huyện ủy, Huyện đội Vĩnh Cửu đứng chân ở khu vực bắc Trảng Bom và Bàu 17. Ở Biên Hòa, lực lượng vũ trang có hai tiểu đoàn đặc công: d1 phụ trách sân bay Biên Hòa, d2 phụ trách tổng kho Long Bình và biệt động phụ trách thị xã Biên Hòa. Bộ đội địa phương huyện Vĩnh Cửu gồm một đại bộ binh và một đại công binh.

Với những nỗ lực, tinh thần kiên cường, liên tục chiến đấu càn quét đã giúp lực lượng vũ trang Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa vượt qua thời kì khó khăn, phá hủy thế kìm kẹp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở các cửa khẩu hậu cần, mở hành lang chiến dịch, củng cố tổ chức, bổ sung trang bị, rèn luyện lực lượng chuẩn bị bước vào chiến dịch mới.

2. Lực lượng vũ trang tỉnh trong Chiến dịch Nguyễn Huệ

Đầu năm 1972, với những phán đoán về sự tiến công của lực lượng cách mạng, chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn bố trí lực lượng mạnh ở hai đầu: Trị Thiên và Đông Nam Bộ. Đồng thời, tăng quân ở các vùng biên giới, củng cố các phòng tuyến biên giới chạy dọc các tỉnh Tây Ninh và Phước Long. Bố trí: các Sư đoàn chủ lực (9,18,25), 76 liên đội, 145 đại đội và hàng vạn dân vệ; trong đó, tranh bị 456 xe tăng, thiết giáp. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy Miền mở chiến dịch trên chiến trường miền Đông, gọi là “Chiến dịch Nguyễn Huệ”. Chiến dịch xác định: đường số 13 (Thủ Dầu Một) và đường số 22 (Tây Ninh) là hai hướng chính và Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa là hướng phối hợp quan trọng.

Phân khu ủy Thủ Biên và Phân khu ủy Bà Rịa chủ trương mở đợt tiến công vũ trang, đấu tranh chính trị, binh vận ở khắp các địa bàn hòng tiêu diệt lực lượng và phương tiện chiến tranh của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

 Tại Phân Khu Bà Rịa, từ ngày 28/01 – 17/02/1972, Trung đoàn 33 đã tấn công nhiều đồn bót, chủ yếu khu căn cứ chiến đoàn 48, 52, sư đoàn 18 ở Long Khánh. Đơn vị đã tiêu diệt được 5 đại đội, 4 trung đội, chiến đoàn 48 và chiến đoàn 52 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Ở huyện Xuân Lộc, Bộ đội K8, K9 cùng các biện động du kích ở các xã tấn công vào các tua bót, các trụ sở tề xã phá hủy nhiều bộ máy chính quyền ở Bình Phú, Bình Lộc, Bảo Bình và thị xã Long Khánh. Ở Long Thành, Tiểu đoàn 3 cùng du kích và bộ phận địa phương tấn công vào Phước Thái, tiêu diệt 1 trung đội, phá hủy nhiều tuyến phòng vệ trên đường 15. Trong đó, nổi bật là cuộc đấu tranh của 4000 giáo dân Gia Kiệm và 2000 Việt Kiều (Campuchia về nước 1970) chống bắt lính.

Tại Phân khu Thủ Biên, ngày 07/01/1972, lực lượng vũ trang Biên Hòa đã phá hủy 10 tấn đạn và rốc két trong cuộc tấn công vào hai kho đạn Bình Ý((Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai (1986), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai 1930 – 1995, tập II, Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai, tr. 115.)); tập kích quân Mỹ thuộc lữ 3 không vận; tấn công lính bảo an và dân vệ tại Hưng Nghĩa. Đồng thời, các cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân nổ ra ngày càng nhiều nơi, nhất là công nhân khu kỹ nghệ, kho Long Bình và nhà máy xay đá Bửu Long.

Sau hai tháng đầu năm 1972, lực lượng cách mạng đã mở các cuộc tiến công bằng vũng trang và đấu tranh chính trị ở hai phân khu, đã tạo bước chuyển mới cho chiến dịch Nguyễn Huệ 1972.

Ngày 31/3/1972, chiến dịch Nguyễn Huệ nổ ra. Lực lượng chủ lực Miền bí mật, bất ngờ tạo ra đòn nghi binh khu vực Xa Mát, chuyển từ biên giới về phía Nam, hình thành thế bao vây nhằm đập vỡ tuyến phòng thủ đường số 22. Trận mở màn đã tiêu diệt cứ điểm Xa Mát, phá hủy nhiều xe bọc thép M113, xe tăng M48, M41, pháo 105, diệt Chiến đoàn 46 và Chiến đoàn Cửu Long((Đảng Ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (2011), Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 – 1975), Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 761.)).

Tại chiến trường Đông Nam Bộ, ngày 01/4/1972, chủ lực quân giải phóng nổ súng mở đầu chiến dịch Nguyễn Huệ, hướng chính là Lộc Ninh. Bộ Tư lệnh Phân khu Thủ Biên và Bà Rịa sử dụng 3 thứ quân, tiến công vào Đức Thạnh và Xuyên Mộc. Lực lượng cách mạng đã đánh chiếm quận lỵ, chi khu Lộc Ninh và bao vây thị xã An Lộc (Bình Long). Đến ngày 07/4/1972, Sư đoàn bộ binh 5 và các binh chủng đã tiêu diệt hoàn toàn chi khu Lộc Ninh, diệt một phần Chiến đoàn 9, một phần Trung đoàn 1 thiết giáp, phá hủy nhiều xe các loại, pháo 105, pháo 155 và máy bay.

 Trước đó, đêm 30 rạng sáng 31/3/1972, lực lượng vũ trang tỉnh, huyện Xuân Lộc tấn công 5 tua Trường Sơn, Cầu Mới, Bảo Bình, Gia Lào và cầu Nam Hà. Đồng thời, phát động quần chúng nổi dậy tấn công vào ấp Bảo Liệt, Bảo Bình 2 và Nam Hà.

Ở Long Thành, Nhơn Trạch bộ đội địa phương và du kích đã tiến công 16 đồn bót và kho bom Thành Tuy Hạ; phá hủy trên 40.000 tán bom đạn các loại và hóa chất gây thiệt hại lớn cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa((Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai (1986), Đồng Nai 30 năm chiến tranh giải phóng (1954 – 1975), Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai, tr. 146.)). Trung đoàn 4 kết hợp với lực lượng vũ trang cao su tiêu diệt nghĩa quân 127 tại Bàu Ngỗng.

Tại thị xã Long Khánh, biệt động thị xã tấn công vào các cơ quan đầu não, làm nổ tung kho đạn của sư 18 chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Từ ngày 21/4 đến 10/5/1972, bộ đội K8 cùng du kích xã xây dựng thế trận càn quét, cắt đứt giao thông, tiến công vào Nam Hà, giải phóng phần lớn xã Bảo Bình và phát động quần chúng nổi dậy làm chủ Nam Hà và Bảo Bình 1.

Đêm 19/6/1972, lực lượng cách mạng của huyện Xuân Lộc đã tấn công vào đồn Bảo Bình, tiến hành bao vây, kêu gọi lực lượng đối phương bỏ vũ khí và huy động nhân dân phá đồn, tịch thu vũ khí. Giải phóng xã Bảo Bình. Tiếp đến, ngày 01/8/1972, Tiểu đoàn 14 pháo đặc công đã bắn ĐKB vào sân bay Biên Hòa, phá hủy 74 máy bay, 13 xe quân sự, hai dàn ra đa và nhiều phương tiện khác.

Đến tháng 8/1972, Bộ Tư lệnh miền Nam bố trí Trung đoàn 4 đứng chân ở Long Thành, Nhơn Trạch. Trung đoàn 33 ở Trảng Bom, Hố Nai và Vĩnh Cửu. Đồng thời, điều Đoàn đặc công 113 về Biên Hòa làm nhiệm vụ đánh phá kho tàng và hậu cứ.

Tại khu vực Long Thành, Nhơn Trạch trung đoàn 4 tổ chức nhiều trận đánh, vừa làm tiêu hao một số đại đội bảo an, vừa thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích của nhân dân. Trên quốc lộ 15, bộ đội, du kích và nhân dân đã đắp hơn 200 mô đất, chà gai, tiến hành bắn cháy 8 xe, diệt 4 sĩ quan và 20 tên Mỹ. Tại Nhơn Trạch, Đại đội 240 huyện đã tiến công vào bộ máy kìm kẹp thuộc hai xã Phước Lai và Phước Tiến, phát động quần chúng nổi dậy làm chủ xã và ấp.

Ngày 10/9/1972, Thị ủy Biên Hòa là H16 đã giấu một quả bom hẹn giờ trong kho bom tại sân bay. Khoảng 9 giờ, ngày 11/9/1972, quả bom phát nổ. Cùng lúc từ dốc Ông Hoàng, Tiểu đoàn 174 pháo Trung đoàn 113 đặc công đã bắn pháo vào sân bay, phá hủy 4 kho chứa bom, 200 máy bay các loại, tiêu diệt 24 sĩ quan Mỹ, 46 sĩ quan và một số nhân viên kỹ thuật. Sân bay bị tê liệt. Các hãng thông tấn AP, AFT đã thừa nhận: “đối phương (quân giải phóng) đã gây thiệt hại ghê gớm nhất. Trận pháo kích vào sân bay Biên Hòa có giá trị ngang với một trận tập kích bằng máy bay chiến lược”((Đảng Ủy – Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai, Lịch sử lực lượng vũ trang tỉnh Đồng Nai 1945 – 1995, Nxb. Quân đội Nhân dân, tr. 171.)).

Cùng với trận đánh sân bay, Tiểu đoàn 9 và Đại đội 12B đặc công đánh khu kho 53 tổng kho Long Bình. Tiếp đó, ngày 13/9/1972, 57 chiến sĩ đặc công đã đặt 210 kg thuốc nổ trong các kho, đến 4 giờ sáng ngày 14/9/1972, cả kho 53 nổ tung, phá hủy 200 kho với trên 15.000 tấn bom đạn, xăng dầu; 17 dãy nhà lính bị sập và loại khỏi vùng chiến đấu hơn 300 tên.

Trên quốc lộ 1, từ Hố Nai – Trảng Bom – Hưng Lộc, Trung đoàn 33 phối hợp lực lượng vũ trang địa phương, du kích và quần chúng nhân dân tiến hành chủ trương “mở mảng, mở vùng”. Ngày 03/10/1972, Trung đoàn 33 tập kích đồn Hưng Lộc, mở đường cho Tiểu đoàn 7 và bội đội huyện tấn công vào ấp Hưng Lộc, đánh tan bộ máy kìm kẹp và giải phóng ấp. Đồng thời, Tiểu đoàn 8 phối hợp với du kích vây lấn bức hàng đồn Lò Than (Sông Thao), Tiểu đội 9 đánh vào ấp 2 Sông Thao và ấp Bàu Hàm. Lực lượng cách mạng đánh chiếm cụm pháo Sông Thao, phá hủy 2 khẩu 105 ly, 1 khẩu pháo 81 ly và phả hủy hoàn toàn khu thông tin của đối phương.

Ngày 11/11/1972, 4 chiến sĩ đặc công Đoàn 10 (đại đội 32) với 16 khối thuốc nổ, phá hủy toàn bộ khu hóa chất và kho bom napal ở kho Thành Tuy Hạ. Tiếp đó, ngày 12/12/1972, đội 12 đặc công Đoàn 10 đã đưa 25 khối thuốc nổ phá hầu hết toàn bộ kho bom Thành Tuy Hạ với 60.000 quả bom, 106.000 mét khối đạn pháo; trong đó, có 33.000 mét khối loại bom CBU((Đỗ Bá Nghiệp (Chủ biên) (2000), Địa chí Đồng Nai, tập 3: Lịch sử, Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai, tr. 315.)).

Có thể thấy,với quyết tâm đánh giặc, lực lượng vũ trang Biên Hòa đã phối hợp với lực lượng toàn miền tạo nên chiến dịch Nguyễn Huệ, góp phần làm đưa đến thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Xuân – Hè năm 1972.

3. Thay lời kết

Thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, đã thể hiện nghệ thuật nắm bắt tình hình của Đảng Cộng sản Việt Nam trên một tầm cao mới. Việt Nam vừa lợi dụng tình hình chính trị năm 1972, vừa tận dụng được những điều kiện khách quan để kiên trì đấu tranh theo đường lối độc lập tự chủ của Việt Nam. Có thể nói, thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ ở Đồng Nai là sự kết hợp giữa lực lượng vũ trang Đồng Nai và lực lượng chủ lực miền, đã chớp lấy thời cơ liên tục tấn công từ nông thôn, vùng ven đến các thị xã, thị trấn; tấn công vào các kho tàng quân sự, căn cứ địa, sân bay,… Lực lượng vũ trang tỉnh đã đập tan các thế kìm kẹp của của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mở rộng vùng giải phóng cho nhân dân, góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Tài liệu tham khảo

1.Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai (1986), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai 1930 - 1995, tập II, Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai.
2.Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai (1986), Đồng Nai 30 năm chiến tranh giải phóng (1954 – 1975), Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai.
3.Ban Chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai (1998), Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai.
4.Đảng Ủy – Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai, Lịch sử lực lượng vũ trang tỉnh Đồng Nai 1945 – 1995, Nxb. Quân đội Nhân dân.
5.Đảng Ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (2011), Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 – 1975), Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia.
6.Đỗ Bá Nghiệp (Chủ biên) (2000), Địa chí Đồng Nai, tập 3: Lịch sử, Đồng Nai, Nxb. Đồng Nai.
7.Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên) (2017), Lịch sử Việt Nam từ năm 1965 – 1975, tập 13, Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học Xã hội.

Trích dẫn

[fme_show_footnotes]

Trích nguồn

Trích Quân khu 7, Bộ Tham Mưu (2022), Chiến dịch Nguyễn Huệ – 50 năm nhìn lại (1972 – 2022), NXB. Quân đội Nhân dân, tr. 280 – 288
Facebook
Email

There are no reviews yet. Be the first one to write one.